Cho tôi hỏi đàn bà là chi rứa ???
Là những gì rung động trái tim ta
Làm cho ta cảm thấy nổi da gà
Là gặp gỡ, xốn xang, là tiếng sét...
Là hợp ‘gu’ vì cùng chung tính nết
Là âm thầm nhung nhớ lúc chia xa
Là nụ hôn. Ôi rợn cả thịt da
Là ẻo lả vòng tay nhưng rất chắc
Là mái tóc mùi chanh thơm hăng hắc
Là môi mềm ẩm tẩm bùa mê
Là đôi chân thoăn thoắt đến , đi , về
Là son phấn ngào ngạt hương rực rỡ...
Là niềm vui cho hồn ta cởi mở
Là đắng cay, nhục nhã lúc ghen tuông
Là dễ thương trong những lúc thẹn thùng
Là bẳn gắt dữ dằn khi la lối
Là những người sợ ma về ban tối
Là ôm chặt để kiếm sự chở che
Là đắm say lúc má tựa vai kề
Là hay nói ‘ Suốt đời yêu anh mãi ’
Là cái tật suốt ngày hay lải nhải
Là chỉ mình lẽ phải. Các ông thua !!!
Là shopping hay đi sắm đi mua
Là phục vụ, đến gãy lìa xương sống
Là hay hờn, mặt chầm dầm một đống
Là hỏi gì không nói, gọi không thưa
Là ngoài trời vừa nắng lại vừa mưa
Là phải trái trắng đen không phân biệt
Là cãi cọ, ta vẩn là thua thiệt
Là chịu thua. Thôi đi ngũ cho xong
Là vắng nhà một bữa đã nhớ mong
Là đủ thứ hầm bà lằng trong đó
Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010
Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010
Chốn Xưa
Tặng Mũi Né thân thương
Em về thăm lại chốn xưa .
Nghe chim gọi bạn trong mưa não nùng
Tìm anh trong cõi mịt mùng
Tìm anh trong cõi... nghìn trùng biển khơi ...
Hồn em rời rã chơi vơi
Vai gầy ướt lạnh- Đất trời bão giông
Anh xa, em vẫn nhớ mong!
Nồng hương yêu dấu một lòng cho nhau
Bồi hồi nhức nhối tim đau .
Lẽ nào em nhớ_.... Lẽ nào anh quên??...
Chốn-xưa trăng vẫn nghiêng thềm
Riêng mình hai chốn, hai miền tương tư.[/
Kim Hường
Em về thăm lại chốn xưa .
Nghe chim gọi bạn trong mưa não nùng
Tìm anh trong cõi mịt mùng
Tìm anh trong cõi... nghìn trùng biển khơi ...
Hồn em rời rã chơi vơi
Vai gầy ướt lạnh- Đất trời bão giông
Anh xa, em vẫn nhớ mong!
Nồng hương yêu dấu một lòng cho nhau
Bồi hồi nhức nhối tim đau .
Lẽ nào em nhớ_.... Lẽ nào anh quên??...
Chốn-xưa trăng vẫn nghiêng thềm
Riêng mình hai chốn, hai miền tương tư.[/
Kim Hường
Woodstock 1969 đại nhạc hội lịch sử
Mời các bạn đọc báo cuối tuần.
Đại nhạc hội Woodstock tổ chức tại New York vào năm 1969 chắc chắn là một trong những thời khắc trọng đại nhất của lịch sử âm nhạc thế giới. Ba ngày ngập tràn âm nhạc, bùn lầy, ma túy và nổi loạn, 32 nghệ sĩ, hơn 400.000 khán giả, 2 người chết và 2 đứa trẻ được ra đời, tất cả đã góp phần tạo nên một sự kiện âm nhạc kinh điển.
Woodstock khởi đầu từ ý tưởng đầu tư của John Roberts và Joel Rosenman, khi cả hai đăng một mẩu quảng cáo trên hai tờ báo hàng đầu của Mỹ: “Những doanh nhân trẻ với nguồn vốn lớn cần tìm các cơ hội đầu tư hợp pháp, thú vị và những đề nghị làm ăn hấp dẫn”. Michael Lang và Artie Cornfeld đã phản hồi mẩu tin này. Ban đầu, bộ tứ quyết định xây dựng một phòng thu âm kiêm trung tâm nghỉ dưỡng nhưng khi ngồi lại bàn bạc, họ gạt bỏ kế hoạch này và nhất trí tổ chức một đại nhạc hội ngoài trời.
Sau rất nhiều hiểu lầm và trở ngại trong kế hoạch thực hiện (thậm chí có lúc John Roberts đã dọa sẽ rút lại vốn và rời nhóm), cuối cùng Woodstock cũng được công bố sẽ diễn ra trong ba ngày, 15 đến 17 tháng 8 năm 1969.
Woodstock 1969
Địa điểm tổ chức là một trang trại lớn ở Bethel, New York, cách thị trấn Woodstock không xa. Ban tổ chức đã thuyết phục cảnh sát rằng sẽ có không quá 50.000 khán giả tham gia, dù về sau họ thừa nhận rằng con số ước tính ban đầu lên đến 200.000 người. Tuy không có các thống kê chính thức nhưng lượng khán giả thực sự phải lên đến 350.000 – 500.000 người.
Ban đầu, Woodstock là một buổi hòa nhạc có bán vé với giá vé đặt trước là 18 USD, và 24 USD cho vé mua tại chỗ. Tuy nhiên vì số người tham dự vượt xa những tính toán của ban tổ chức nên cuối cùng, nó lại trở thành miễn phí khi người ta dỡ bỏ hàng rào ngăn cách khu vực biểu diễn và không giới hạn lượng khán giả vào xem.
Địa điểm tổ chức là một trang trại lớn ở Bethel, cách thị trấn Woodstock không xa
Theo kế hoạch, Woodstock lẽ ra chỉ diễn trong ba ngày (kết thúc vào 17/8) nhưng thực chất nó kéo dài sang tận ngày 18/8. Đại nhạc hội được khởi động và lúc 5 giờ chiều 15/8 với màn trình diễn liên tục 8 ca khúc của Richie Havens, trong đó có bản Strawberry Fields Forever nổi tiếng cùng phần biến tấu ca khúc Hey Jude của The Beatles.
Bậc thầy tâm linh và yoga Ấn Độ Swami Satchidananda đọc tuyên bố khai mạc chính thức ngay sau phần trình diễn của Havens.
Ngày đầu tiên có 9 phần trình diễn, với các nghệ sĩ như Bert Sommer, Tim Hardin, Melanie và Arlo Guthrie.
Cũng vào hôm đó, nghệ sĩ đàn sitar người Ấn Ravi Shankar đã trình tấu 5 bản nhạc. Lúc này, trời bắt đầu mưa, nhưng điều này không hề ảnh hưởng đến người biểu diễn cũng như khán giả bên dưới.
Ngày đầu của nhạc hội khép lại với phần biểu diễn của Joan Baez, người vào lúc đó đang mang thai sáu tháng. Cô đã hát 7 bài, trong đó có Sweet Sir Galahad cùng ca khúc nổi tiếng – cũng là bản nhạc yêu thích của chồng cô, David Harris – I Dreamed I Saw Joe Hill. Thời gian này Harris đang phải ngồi tù vì tội trốn nghĩa vụ quân sự. Baez hoàn tất phần biểu diễn của mình bằng ca khúc huyền thoại We Shall Overcome, một ca khúc thể hiện cô đọng và súc tích “tinh thần Woodstock”.
Ngày thứ hai được bắt đầu vào khoảng trưa 16/8, tập trung rất nhiều màn biểu diễn ‘psychedelic’ guitar với những tên tuổi lớn như John Sebastian hay Carlos Santana.
Cũng vào hôm đó, Janis Joplin trình diễn 10 bài, với bản Can’t Turn You Loose kinh điển. Ngày thứ hai cũng chứng kiến màn trình diễn dài nhất nhạc hội với 25 bài hát từ ban nhạc The Who với những ca khúc như Tommy và My Generation.
Ngày thứ ba và thức tư bao gồm phần biểu diễn của Joe Cocker, người kết thúc lượt diễn của mình bằng bản With A Little Help From My Friend. Bộ tứ Cosby, Stills, Nash and Young diễn hai suất, một bằng đàn điện và một acoustic.
Đại nhạc hội khép lại với lượt biểu diễn 16 ca khúc của huyền thoại guitar Jimmy Hendrix với những Voodoo Child, Star Spangled Banner và Purple Haze. Trong bản nhạc thứ tư – Red House – dây E trên đàn của Hendrix bị đứt. Tuy nhiên, điều này không ngăn được anh tiếp tục phần trình diễn của mình với cây guitar 5 dây. Trong không khí phản chiến từ cuộc chiến tranh Việt Nam đang lan rộng, anh đã sáng tạo cả âm thanh của còi báo động và bom đạn bằng cây guitar trong ca khúc Star Spangled Banner.
Jimi Hendrix at Woodstock
Jimi Hendrix at Woodstock
Dù Woodstock được nhiều người nhớ đến bởi mục đích âm nhạc và hòa bình, nó vẫn không tránh khỏi một số tiêu cực. Với một lượng khán giả khổng lồ vượt xa mọi tính toán của ban tổ chức, các tiêu chuẩn tối thiểu về không gian, vệ sinh, y tề và lương thực không thể được đáp ứng. Việc khán giả lũ lượt kéo nhau đến với số lượng lớn cũng góp phần gây ách tắc giao thông kéo dài ở thị trấn Bethel. Không chỉ có vậy, những cơn mưa dai dẳng làm điểm diễn lầy lội thêm. Rất nhiều người đến hôm này vẫn nhớ như in những bãi lầy khủng kiếp, thậm chí Woodstock còn được biết đến với tên gọi “Mudstock” (mud: bùn). Sau này, trong những buổi hòa nhạc tôn vinh Woodstock trên khắp thế giới, khán giả tắm mình trong bùn và họ xem đó nhưng một nét đặc trưng không thể thiếu khi nói về Woodstock.
Thỏa cơn khát nghệ thuật
Nhạc hội cũng nổi tiếng bởi việc ma túy và chất khích thích được sử dụng tràn lan. Thậm chí, một vài nghệ sĩ đã biểu diễn trong cơn say thuốc. Tình dục tự do cũng là một đặc điểm nổi bật tại Woodstock. Trong những ngày nhạc hội diễn ra, có thể thấy rất nhiều khán giả hoàn toàn khỏa thân hoặc làm tình ngoài trời ngay trong khu biểu diễn.
Dù tập hợp được một đội ngũ trình diễn hùng hậu, Woodstock cũng chịu không ít lời từ chối. Các nghệ sĩ như Bob Dylan hay Led Zepplin đã được mời nhưng đều từ chối. Trong khi đó, ban nhạc Anh huyền thoại The Beatles thậm chí còn không nhận được lời đề nghị nào từ ban tổ chức.
(RockPassion.Vn sưu tầm và biên dịch)
Đại nhạc hội Woodstock tổ chức tại New York vào năm 1969 chắc chắn là một trong những thời khắc trọng đại nhất của lịch sử âm nhạc thế giới. Ba ngày ngập tràn âm nhạc, bùn lầy, ma túy và nổi loạn, 32 nghệ sĩ, hơn 400.000 khán giả, 2 người chết và 2 đứa trẻ được ra đời, tất cả đã góp phần tạo nên một sự kiện âm nhạc kinh điển.
Woodstock khởi đầu từ ý tưởng đầu tư của John Roberts và Joel Rosenman, khi cả hai đăng một mẩu quảng cáo trên hai tờ báo hàng đầu của Mỹ: “Những doanh nhân trẻ với nguồn vốn lớn cần tìm các cơ hội đầu tư hợp pháp, thú vị và những đề nghị làm ăn hấp dẫn”. Michael Lang và Artie Cornfeld đã phản hồi mẩu tin này. Ban đầu, bộ tứ quyết định xây dựng một phòng thu âm kiêm trung tâm nghỉ dưỡng nhưng khi ngồi lại bàn bạc, họ gạt bỏ kế hoạch này và nhất trí tổ chức một đại nhạc hội ngoài trời.
Sau rất nhiều hiểu lầm và trở ngại trong kế hoạch thực hiện (thậm chí có lúc John Roberts đã dọa sẽ rút lại vốn và rời nhóm), cuối cùng Woodstock cũng được công bố sẽ diễn ra trong ba ngày, 15 đến 17 tháng 8 năm 1969.
Woodstock 1969
Địa điểm tổ chức là một trang trại lớn ở Bethel, New York, cách thị trấn Woodstock không xa. Ban tổ chức đã thuyết phục cảnh sát rằng sẽ có không quá 50.000 khán giả tham gia, dù về sau họ thừa nhận rằng con số ước tính ban đầu lên đến 200.000 người. Tuy không có các thống kê chính thức nhưng lượng khán giả thực sự phải lên đến 350.000 – 500.000 người.
Ban đầu, Woodstock là một buổi hòa nhạc có bán vé với giá vé đặt trước là 18 USD, và 24 USD cho vé mua tại chỗ. Tuy nhiên vì số người tham dự vượt xa những tính toán của ban tổ chức nên cuối cùng, nó lại trở thành miễn phí khi người ta dỡ bỏ hàng rào ngăn cách khu vực biểu diễn và không giới hạn lượng khán giả vào xem.
Địa điểm tổ chức là một trang trại lớn ở Bethel, cách thị trấn Woodstock không xa
Theo kế hoạch, Woodstock lẽ ra chỉ diễn trong ba ngày (kết thúc vào 17/8) nhưng thực chất nó kéo dài sang tận ngày 18/8. Đại nhạc hội được khởi động và lúc 5 giờ chiều 15/8 với màn trình diễn liên tục 8 ca khúc của Richie Havens, trong đó có bản Strawberry Fields Forever nổi tiếng cùng phần biến tấu ca khúc Hey Jude của The Beatles.
Bậc thầy tâm linh và yoga Ấn Độ Swami Satchidananda đọc tuyên bố khai mạc chính thức ngay sau phần trình diễn của Havens.
Ngày đầu tiên có 9 phần trình diễn, với các nghệ sĩ như Bert Sommer, Tim Hardin, Melanie và Arlo Guthrie.
Cũng vào hôm đó, nghệ sĩ đàn sitar người Ấn Ravi Shankar đã trình tấu 5 bản nhạc. Lúc này, trời bắt đầu mưa, nhưng điều này không hề ảnh hưởng đến người biểu diễn cũng như khán giả bên dưới.
Ngày đầu của nhạc hội khép lại với phần biểu diễn của Joan Baez, người vào lúc đó đang mang thai sáu tháng. Cô đã hát 7 bài, trong đó có Sweet Sir Galahad cùng ca khúc nổi tiếng – cũng là bản nhạc yêu thích của chồng cô, David Harris – I Dreamed I Saw Joe Hill. Thời gian này Harris đang phải ngồi tù vì tội trốn nghĩa vụ quân sự. Baez hoàn tất phần biểu diễn của mình bằng ca khúc huyền thoại We Shall Overcome, một ca khúc thể hiện cô đọng và súc tích “tinh thần Woodstock”.
Ngày thứ hai được bắt đầu vào khoảng trưa 16/8, tập trung rất nhiều màn biểu diễn ‘psychedelic’ guitar với những tên tuổi lớn như John Sebastian hay Carlos Santana.
Cũng vào hôm đó, Janis Joplin trình diễn 10 bài, với bản Can’t Turn You Loose kinh điển. Ngày thứ hai cũng chứng kiến màn trình diễn dài nhất nhạc hội với 25 bài hát từ ban nhạc The Who với những ca khúc như Tommy và My Generation.
Ngày thứ ba và thức tư bao gồm phần biểu diễn của Joe Cocker, người kết thúc lượt diễn của mình bằng bản With A Little Help From My Friend. Bộ tứ Cosby, Stills, Nash and Young diễn hai suất, một bằng đàn điện và một acoustic.
Đại nhạc hội khép lại với lượt biểu diễn 16 ca khúc của huyền thoại guitar Jimmy Hendrix với những Voodoo Child, Star Spangled Banner và Purple Haze. Trong bản nhạc thứ tư – Red House – dây E trên đàn của Hendrix bị đứt. Tuy nhiên, điều này không ngăn được anh tiếp tục phần trình diễn của mình với cây guitar 5 dây. Trong không khí phản chiến từ cuộc chiến tranh Việt Nam đang lan rộng, anh đã sáng tạo cả âm thanh của còi báo động và bom đạn bằng cây guitar trong ca khúc Star Spangled Banner.
Jimi Hendrix at Woodstock
Jimi Hendrix at Woodstock
Dù Woodstock được nhiều người nhớ đến bởi mục đích âm nhạc và hòa bình, nó vẫn không tránh khỏi một số tiêu cực. Với một lượng khán giả khổng lồ vượt xa mọi tính toán của ban tổ chức, các tiêu chuẩn tối thiểu về không gian, vệ sinh, y tề và lương thực không thể được đáp ứng. Việc khán giả lũ lượt kéo nhau đến với số lượng lớn cũng góp phần gây ách tắc giao thông kéo dài ở thị trấn Bethel. Không chỉ có vậy, những cơn mưa dai dẳng làm điểm diễn lầy lội thêm. Rất nhiều người đến hôm này vẫn nhớ như in những bãi lầy khủng kiếp, thậm chí Woodstock còn được biết đến với tên gọi “Mudstock” (mud: bùn). Sau này, trong những buổi hòa nhạc tôn vinh Woodstock trên khắp thế giới, khán giả tắm mình trong bùn và họ xem đó nhưng một nét đặc trưng không thể thiếu khi nói về Woodstock.
Thỏa cơn khát nghệ thuật
Nhạc hội cũng nổi tiếng bởi việc ma túy và chất khích thích được sử dụng tràn lan. Thậm chí, một vài nghệ sĩ đã biểu diễn trong cơn say thuốc. Tình dục tự do cũng là một đặc điểm nổi bật tại Woodstock. Trong những ngày nhạc hội diễn ra, có thể thấy rất nhiều khán giả hoàn toàn khỏa thân hoặc làm tình ngoài trời ngay trong khu biểu diễn.
Dù tập hợp được một đội ngũ trình diễn hùng hậu, Woodstock cũng chịu không ít lời từ chối. Các nghệ sĩ như Bob Dylan hay Led Zepplin đã được mời nhưng đều từ chối. Trong khi đó, ban nhạc Anh huyền thoại The Beatles thậm chí còn không nhận được lời đề nghị nào từ ban tổ chức.
(RockPassion.Vn sưu tầm và biên dịch)
Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010
SỐNG - ĐỪNG
SỐNG !
SỐNG không giận hờn không oán trách.
SỐNG mỉm cười với thử thách chông gai.
SỐNG vươn lên theo kịp ánh ban mai.
SỐNG an hòa với những người chung sống.
SỐNG là động nhưng lòng luôn bất động.
SỐNG là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.
SỐNG hiên ngang danh lợi xem thường.
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến...
ĐỪNG !
ĐỪNG để nhìn thấy một nụ cười rồi mới cười lại.
ĐỪNG đợi đến khi được yêu thương mới yêu thương lại.
ĐỪNG đợi đến khi cô đơn mới nhận ra giá trị của tin nhắn.
ĐỪNG đợi đến khi có một công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu làm.
ĐỪNG để có thật nhiều rồi mới chia sẻ đôi chút.
ĐỪNG để đến khi làm người khác buồn rồi mới xin lỗi.
ĐỪNG hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác.Mỗi chúng ta là một
con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.
ĐỪNG mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng,vì chỉ có bạn mới hiểu rõ
những mục tiêu nào là tốt cho mình.
ĐỪNG ngại học hỏi.Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc
đời.
ĐỪNG ngại mạo hiểm để làm những điều tốt.Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với
những lần mạo hiểm.
ĐỪNG nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ.Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi
hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.
ĐỪNG để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai.Bằng cách
sống cuộc sống của mình ngày hôm nay,vào lúc này,bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.
ĐỪNG quên hy vọng,sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.
ĐỪNG đánh mất niềm tin vào bản thân mình,chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do
để cố gắng thực hiện điều đó.
ĐỪNG lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại,chính tâm hồn của mỗi con người
mới xác định được mức độ "giàu có" trong cuộc sống của mình.
ĐỪNG để những khó khăn đánh gục bạn,hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.
ĐỪNG do dự khi đón nhận sự giúp đỡ,tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời
gian nào trong cuộc đời.
ĐỪNG chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu,đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
ĐỪNG chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
ĐỪNG từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho.
ĐỪNG ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo.
ĐỪNG e dè đối mặt thử thách.Chỉ khi thử sức mình,bạn mới học được can đảm.
ĐỪNG đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghỉ không thể nào tìm ra nó.Cách
nhanh nhất để nhận tình yêu là cho,cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt,cách tốt nhất
để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cáng tự do.
ĐỪNG đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình
đang đi đâu.
ĐỪNG quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng.
ĐỪNG ngại học hỏi.Kiến thức là vô bờ,là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng.
ĐỪNG sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn.Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại.
ĐỪNG bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ vì
biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.
ĐỪNG quên mỉm cười trong cuộc sống.
ĐỪNG quên tìm cho mình một người bạn thực sự,bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt
cuộc đời.
Và cuối cùng ĐỪNG quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn
cần.Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.
Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng
từng bước khám phá...
Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận được thật nhiều...
SỐNG không giận hờn không oán trách.
SỐNG mỉm cười với thử thách chông gai.
SỐNG vươn lên theo kịp ánh ban mai.
SỐNG an hòa với những người chung sống.
SỐNG là động nhưng lòng luôn bất động.
SỐNG là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.
SỐNG hiên ngang danh lợi xem thường.
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến...
ĐỪNG !
ĐỪNG để nhìn thấy một nụ cười rồi mới cười lại.
ĐỪNG đợi đến khi được yêu thương mới yêu thương lại.
ĐỪNG đợi đến khi cô đơn mới nhận ra giá trị của tin nhắn.
ĐỪNG đợi đến khi có một công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu làm.
ĐỪNG để có thật nhiều rồi mới chia sẻ đôi chút.
ĐỪNG để đến khi làm người khác buồn rồi mới xin lỗi.
ĐỪNG hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác.Mỗi chúng ta là một
con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.
ĐỪNG mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng,vì chỉ có bạn mới hiểu rõ
những mục tiêu nào là tốt cho mình.
ĐỪNG ngại học hỏi.Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc
đời.
ĐỪNG ngại mạo hiểm để làm những điều tốt.Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với
những lần mạo hiểm.
ĐỪNG nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ.Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi
hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.
ĐỪNG để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai.Bằng cách
sống cuộc sống của mình ngày hôm nay,vào lúc này,bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.
ĐỪNG quên hy vọng,sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.
ĐỪNG đánh mất niềm tin vào bản thân mình,chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do
để cố gắng thực hiện điều đó.
ĐỪNG lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại,chính tâm hồn của mỗi con người
mới xác định được mức độ "giàu có" trong cuộc sống của mình.
ĐỪNG để những khó khăn đánh gục bạn,hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.
ĐỪNG do dự khi đón nhận sự giúp đỡ,tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời
gian nào trong cuộc đời.
ĐỪNG chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu,đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
ĐỪNG chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
ĐỪNG từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho.
ĐỪNG ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo.
ĐỪNG e dè đối mặt thử thách.Chỉ khi thử sức mình,bạn mới học được can đảm.
ĐỪNG đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghỉ không thể nào tìm ra nó.Cách
nhanh nhất để nhận tình yêu là cho,cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt,cách tốt nhất
để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cáng tự do.
ĐỪNG đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình
đang đi đâu.
ĐỪNG quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng.
ĐỪNG ngại học hỏi.Kiến thức là vô bờ,là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng.
ĐỪNG sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn.Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại.
ĐỪNG bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ vì
biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.
ĐỪNG quên mỉm cười trong cuộc sống.
ĐỪNG quên tìm cho mình một người bạn thực sự,bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt
cuộc đời.
Và cuối cùng ĐỪNG quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn
cần.Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.
Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng
từng bước khám phá...
Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận được thật nhiều...
Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010
Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010
Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010
Hình ảnh cũ
Hàng đứng: Trần Lức,…?..., Thầy Khải, Võ Quang Thời, Cô Bùi Thị Anh
Hàng ngồi: Phan Văn Trường,…?...,…?...,Giang Tường Lâm, Trương Văn Minh, Thầy Vĩnh Giên.
Lê Quang, Trần Văn Chương, Lê Thị Ngư
Một hình ảnh cũ năm nào: Du ngoạn Gềnh đá Thạch long Hè năm 1968, mới đó mà đã 42 năm! Trong ảnh: Người còn, người mất, kẻ tha phương nơi đất khách quê người. Mỗi con người, một thân phận: Người thành danh (Thời), người lận đận (Minh)…
Xin một phút suy tư để nhớ về bạn bè và trường xưa: “Hải Long yêu dấu”…
Huỳnh Khải
Phan Thiết ngày 02/12/2010
Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Gọi Anh Mùa Xuân - Diễm Liên
Tháng 12 này mt đúng 54 tuổi,thời gian qua nhanh quá.
Làm người từ lúc sanh ra đời đã có tiếng khóc,do đó cả đời người cứ thế "buồn nhiều hơn vui",fải chi đấng tạo hóa khi mới sinh ra mà "cười chào đời" thì hay biết mấy.
Chúc các bạn có một cuối tuần vui vẻ.
Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010
500+ chữ Việt có dấu Hỏi / Ngã
500+ chữ Việt có dấu Hỏi / Ngã (3.2)
500+ Vietnamese words with Hook or Tilde
500+ mots vietnamiens avec "crochet en chef" et "tilde"
(Unicode font)
ả ả đào; ả hằng;
ả êm ả; óng ả;
ải [mục, rữa]; cửa ải; quan ải
ảnh [hình bóng] diện ảnh ; ảnh hưởng; ám ảnh; ảnh ương [ĩnh ương];
ảo [mơ hồ] ảo ảnh; ảo huyền; ảo thuật;
ẵm bồng ẵm;
ẩm [uống] ẩm tửu; ẩm thực;
ẩm ẩm thấp; ẩm ướt; ế ẩm;
ẩn [giấu] ẩn dật; ẩn sĩ; bí ẩn;
ẩn [thương hại] lòng trắc ẩn
ẩu ẩu tả;
bả bươn bả; bả vai; [mồi độc] bả vinh hoa;
bã buồn bã; bã mía, bã trầu;
bải bải buôi, bải hoải; bai bải [chối];
bãi bợm bãi; bãi biển, bãi cỏ; [bỏ, thôi] bãi chầu, bãi trường;
bản [bổn: thuộc về mình] bản ngã; bản năng;
bản [gốc] bản lãnh; căn bản;
bản bản đàn; bản thảo; bản đồ; bản lề;
bảng bảng lảng; [biển đặt trên cao] bảng đen, bảng thống kê;
bãng [roi] thiết bãng, thước bãng;
bảo chỉ bảo; [quí] bảo vật; [giữ gìn] bảo tồn, bảo vệ, bảo đảm;
bão bão tố; [ôm ấp] hoài bão;
bảy [7] số bảy; thứ Bảy; bóng bảy;
bãy bãy biển, bãy cỏ; [bỏ, thôi] bãy chầu, bãy trường; bừa bãy;
bẳm chăm bẳm;
bẵng bẵng lặng; im bẵng;
bẩm bẩm chất, bẩm sinh; bẩm thưa; lẩm bẩm;
bẫm cuốc bẫm;
bẩn [dơ] bẩn thỉu;
bẩn xẩn bẩn; bẩn chật;
bẩy [7, bảy] số bảy; thứ Bẩy; bây bẩy; đòn bẩy; bóng bẩy;
bẻ bẻ lái; bác bẻ, bẻ gãy; vọp bẻ;
bẽ bẽ bàng; bẽ mặt;
bẽn bẽn lẽn;
bẻo bẻo lẻo; chèo bẻo [chim]; chút bẻo;
bẽo bạc bẽo; lạt bẽo;
bể bể khơi; bể nát; bể nghể; đồ bể; làm bể;
bễ bễ nghễ [dòm ngó]
bỉ bền bỉ; khinh bỉ; bỉ bạc, bỉ mặt; bỉ ổi;
bĩ [bế tắc] vận bĩ; bĩ cực;
biển [gian trá] biển thủ;
biển [hẹp hòi] tính biển lận;
biển sông biển;
biểu biểu diễn, biểu dương, biểu hiệu; đại biểu, tiêu biểu;
bỉu bỉu môi;
bỏ bỏ dở, bỏ túi;
bõ [bù lại] bõ ghét, bõ phiền;
bỏm nhai bỏm bẻm;
bõm lõm bõm, nhẹ bõm;
bỏng bỏng da [phỏng]; bỏng lửa; bé bỏng; lỏng bỏng;
bổ bổ dưỡng; bổ đồng; bổ ích; bổ khuyết;
bỗ bỗ bã [thừa];
bổng bay bổng, bổng trầm; lương bổng;
bỗng bỗng nhiên bỗng chốc;
bởi [duyên cớ] bởi vì; bởi thế;
bủm bủm miệng; bủm đít;
bũm lũm bũm; ngập bũm;
bủn bủn rủn, bủn xỉn; thịt bủn [ươn];
bủng bủng beo, bủng teo; mặt bủng da chì;
buổi buổi sáng; buổi chợ; buổi cơm;
bửa bửa củi;
bữa bữa cơm; [ngày] bữa nay, bữa kia;
bưởi bưởi bòng; trái bưởi;
cả [lớn] anh cả; già cả;
cả cả giận; cả cười;
cả cả thảy; tất cả;
cả giá cả;
cả ông hương cả [chức lớn)
cải rau cải; [đổi] cải cách, cải trang;
cãi cải lẫy;
cảm [dám] cảm tử;
cảm [rung động] cảm động; cảm giác; cảm tình;
cảm [xâm nhập] cảm gió; cảm nắng;
cản ngăn cản;
cảng [cửa biển] hải cảng; xuất cảng;
cảng [tiếng kêu] lảng cảng;
cảnh [báo trước] cảnh cáo; cảnh tỉnh;
cảnh [hình sắc] phong cảnh;
cảnh [phong giữ] cảnh sát; cảnh binh;
cảnh [tình tra,ng] cảnh ngộ; hoàn cảnh;
cảo cảo bản; cảo táng; lai cảo;
cảu cảu rảu;
cẳng chân cẳng; cẳng cẳng [chó kêu]
cẩm [có bông] cẩm thạch; cẩm vân;
cẩm [gấm vóc] cẩm bào; cẩm nhung;
cẩm lẩm cẩm
cẩn [giữ] cẩn thận; cẩn mật;
cẩn [khảm] tủ cẩn
cẩn [kính] cẩn cáo; cẩn bạch;
cẩu cẩu thả; cẩu hợp; cẩu trệ; hải cẩu;
chả chả cần; chả giò; cha chả; thằng chả;
chã chã chẹt; bã chã; lã chã;
chải chải chuốt; chải tóc; bàn chải; bươn chải;
chãi vững chãi;
chảng chảng hai, chảng ba [nhánh cây]; trâu chảng;
chảo chảo đụn; cái chảo;
chảu chẩu môi [chúm]
chảy trôi chảy; nước chảy;
chẵn chẵn chòi; chẵn lẻ;
chẳng chẳng có; chẳng nên; chẳng phải; phải chẳng;
chẫm [chậm] chẫm rãi;
chẻ chẻ củi;
chẽ chặt chẽ;
chẻn chẻn hoẻn [vừ chừng]; vừa chẻn;
chẽn chẽn dừng;
chỉ [thuộc về vua] chỉ dụ; chỉ định;
chỉ chỉ dẫn; chỉ chỏ;
chỉ sợi chỉ;
chỉa chỉa ba;
chĩa chĩa súng;
chỉn chỉn e; chỉ ghê; chỉn khôn; chỉn thật;
chỉnh chỉnh đốn; chỉnh lý; chỉnh mảng; chỉnh tề; điều chỉnh, tu chỉnh
chĩnh cái hũ [mưa như cần chĩnh ma đổ];
chỏ cánh chỏ; cùi chỏ; kiếng chỏ;
chõ chõ miệng, chõ xôi; cái chõ [nồi];
chỏang choảng nhau, choảng lộn;
chỏi chỏi lỏi;
chõi chống chõi; chõi hỏi; chõi lại;
chỏm chỏm đá; chỏm tóc; lỏm chỏm;
chõm ngồi chõm chọe; cực chõm; mặt chõm;
chỏn lỏn chỏn;
chõn cá chõn;
chỏng lỏng chỏng;
chõng chõng tre; giường chõng; lều chõng;
chỗ chỗ ở; nằm chỗ;
chổng chổng gọng; chổng mông; lật chổng;
chở che chở;
chở chuyên chở;
chuỗi [xâu] chuỗi hỗ; chuỗi ngày;
chử nhớ chử dạ;
chữ chữ nghĩa; chữ viết;
chửa có chửa [thai nghén);
chữa sửa chữa, chữa lửa;
chửi chửi bới; mắng chửi; chửi thề; chửi rủa;
chửng chửng cứu; nuốt chửng ngay một lần;
chững chững chạc; chập chững; lững chững; đứng chững;
cỏ [giống rừng, nhỏ] heo cỏ; giặc cỏ
cỏ cây cỏ
cỏi cứng cỏi; kém cỏi;
cõi [miền] bờ cõi, cõi tiên;
cỏm cỏm rỏm;
cõm già cõm;
cõng cõng rắn cắn gà nhà;
cổ đầu cổ; [xưa] cổ tích, cổ nhân; [cái trống] cổ động, cổ võ; cổ phần;
cỗ [bộ] cỗ bài, cỗ xe; cỗ bàn, cỗ bánh;
cổi [cởi] cổi áo, cổi mở;
cỗi cằn cỗi; cỗi rễ, cỗi phúc;
cổng cổng làng; kín cổng; mở cổng
cỡ cỡ chừng, cỡ nào; lỡ cỡ; mất cỡ / mắc cỡ;
cởi [cổi] cởi mở;
cỡi [cưỡi] cỡi ngựa;
củ củ cải, củ khoai; [phép tắc] qui củ;
cũ cũ kỹ, cũ càng;
của [tài sản] của cải;
của [thuộc về] của tôi; của anh;
củi củi đước; đốn củi;
cũi cũi chén; cũi sắt [chuồng]; tháo cũi;
củng lủng củng; [bền chặt] củng cố;
cũng cũng như, cũng thế;
cử thi cử, cử nhơn; [cất lên] cử chỉ, cử động; [np^?i dậy] cử binh, cử sự;
cữ cữ kiêng; cữ rét, cữ bú;
cửa cửa nhà; cửa sổ;
cửi canh cửi; khung cửi; mắc cửi;
cưởng con cưởng;
cưỡng cưỡng bách; miễn cưỡng;
cửu [9/chín] cửu tuyền, cửu chương; [lâu] trường cửu, vĩnh cửu;
cữu linh cữu [quan tài);
dả dư dả;
dã dã dượi; thôn dã; dã sữ; [sử không chánh thức);
dã dã man; dã rượu; dã tâm; dã tràng;
dải [dây] dải yếm, dải cờ;
dãi dãi dâu, dãi nắng; dãy nhà;
dảnh cá dảnh;
dão nước dão; trà dão;
dãy dãy núi; dãy phố;
dẩn dớ dẩn;
dẫn dẫn cớ; dẫn dắt; chỉ dẫn; dẫn giải;
dẩu giàu dẩU
dẫu dẫu cho; dẫu mà;
dẫy dẫy đầy; nước dẫy; tràn dẫy;
dẻ cây dẻ; da dẻ;
dẻo dẻo dai; dẻo sức; bánh dẻo; bền dẻo; mềm dẻo;
dể khinh dể, dể ngươi;
dễ dễ dãi, dễ dàng;
dỉ dỉ hơi; dỉ nước mắt; dỉ tai;
dĩ dạn dĩ; sỡ dĩ; bất đắc dĩ; dĩ vãng;
dĩa chén dĩa;
diễm diễm lệ; diễm sắc;
diễn [trình bày] diễn văn; diễn giả;
dỏ dỏ canh [nhà];
dõ chim dõ dẽ;
dỏi dỏi dắng;
dõi dòng dõi; theo dõi;
dỏm dí dỏm;
dõng dõng dạc; dõng mạnh; dõng sĩ;
dỗ dạy dỗ; cám dỗ; dỗ dành; dụ dỗ;
dỗng ở dỗng [ở truồng];
dở giỏi dở; lỡ dở, dở dang; dở nón, dở sách, dở tài;
dỡ [phanh phui, lấy ra] dỡ nhà, dỡ cơm, dỡ chuyện cũ;
dũng [dõng] dũng mãnh; anh dũng;
duỗi duỗi chơn; duỗi tay; duỗi thẳng;
dữ dữ ác; dữ tợn;
dữ hung dữ
dửng dửng dưng; dửng gáy; dửng tóc;
dưỡng [nuôi] bổ dưỡng; dưỡng;
đả [đánh] đả đảo, ấu đả;
đã đã qua, đã xong; [thỏa mãn] ăn đã, chơi đã;
đãi [gạn lấy] đãi đậu; đãi vàng; tiếp đãi; đãi đằng;
đảm [gánh vác] đảm đương; dảm nhiệm;
đảm bảo đảm; can đảm;
đảng [phe] đảng phái; [làng xóm] hương đảng;
đãng [hay quên] đãng trí; [rộng lớn] quang đãng; [phóng túng] du đãng;
đảo [cầu mưa] đảo võ;
đảo [cù lao] hải đảo; bán đảo;
đảo [quay ngược] đảo lộn; đảo chánh;
đẻ sanh đẻ;
đẽ đẹp đẽ;
để đặt để; [dưới đáy] triệt để, hải để; [chống lại] để kháng;
đễ hiếu đễ;
điểm [chấm, chỗ] cu_.c điểm; yếu điểm;
điểm [đếm, tra xét] điê/m binh; kiểm điểm;
điểm điểm tâm;
điểm khuyết điểm;
điển [kinh sách] điển tích; [khuôn] điển hình;
điễn [điện] điễn khí;
đỏ màu đỏ;
đỏ nói đỏ đẻ;
đổ đổ bể, đổ nước; [đánh bạc] đổ bác;
đỗ [đậu] thi đỗ, đùm đỗ; [hạt đỗ] đỗ lạc; [con cuốc] đỗ quyên; họ Ðỗ;
đổi thay đổi;
đỗi [độ] chừng đỗi, đến đỗi;
đỡ [bớt] đỡ đau; đỡ đói;
đỡ [giup', nâng lên] giúp đỡ; nâng đỡ;
đủ đầy đủ;
đủ trái đu đủ;
gả cưới gả;
gã [người] gã kia;
giả giả dối; [ví phỏng] giả sử, hoặc gia; độc giả, đọc giả, tác giả, trưởng giả;
giã giặc giã, giòn giã, giục giã, từ giã; giã gạo;
giải giải thưởng; giải tù; đẫn giải; giải thích; giải vây; giải thoát;
giảm giảm bớt;
giản giản dị; giản tiện; đơn giản;
giảng giảng giải; giảng hòa;
giảnh giảnh tai [vểnh];
giảo giảo giá; gian giảo, xử giảo;
giãy giãy bày; giãy tỏ;
giẵm giẵm bùn; giẵm nát;
giẫy giẫy giụa; giẫy cỏ; giẫy mả;
giẻ giẻ rách; nùi giẻ;
giễu giễu cợt; nói giễu;
giỏ giỏ hoa; cái giỏ;
giõ [đưa tới] giõ miệng; giõ tai;
giỏi giỏi dở; mạnh giỏi;
giỏng giỏng đuôi;
giỗ đám giỗ;
giỗi giận giỗi; hờn giỗi;
giỡn giỡn chơi; cười giỡn;
giữ giữ gìn;
giữa chính giữa;
gổ gây gổ;
gỗ [cây] đồ gỗ;
gở quái gở;
gỡ gặp gỡ; chải gỡ, gỡ rối;
gởi gửi; gởi thơ; gởi gắm;
hải [biển] hải cảng, hải đăng;
hãi [sợ] hãi hùng, kinh hãi;
hãm [cầm giữ] hãm thắng; giam hãm; hãm hại; hãm hiếp;
hảo [tốt] hảo tâm, Hòa Hảo;
hão [không thực] hão huyền;
hãy [vẫn] hãy còn; [sai khiến] hãy nghe; hãy làm;
hẳn chắc hẳn; hẳn hoi; hẳn là;
hể hể hả;
hễ [nếu] hễ mà;
hiểm hiểm trở;
hiển hiển hách; hiển vinh; hiển vi;
hiểu hiểu biết;
hoãn hoãn dịch; hoãn lại
hoảng hoảng hốt; khủng hoảng;
hỏi dấu hỏi; hỏi han; bánh hỏi
hổ hổ thẹn; [cọp] hổ báo, hổ cốt; rắn hổ, chuỗi hổ;
hỗ hỗ trợ;
hổn [thở] hổn hển;
hỗn [vô lễ] hỗn hào; [không thứ tự] hỗn độn, hỗn loạn;
hở hăm hở; hớn hở; lỗ hở; hở chuyện;
hởi [thỏa] hởi lòng, hởi dạ;
hỡi hỡi đồng bào;
hủ hủ hỉ; [không hợp thời] hủ lậu, hủ tục, hủ bại;
hũ hũ rượu, hũ mắm;
hửng chưng hửng; hửng sáng, hửng nắng;
hững hững hờ;
hữu [bạn] bằng hữu; ái hữu;
hữu [bên phải] tả hữu; hữu dực
hữu [có] hữu lý; hữu duyên;
kẻ [người] kẻ kia; [vạch] kẻ hàng;
kẽ cặn kẽ; kẽ hở, kẽ tay;
khoản khoản đãi
khoảng khoảng cách
khỏe mạnh khỏe;
khỏi qua khỏi; khỏi bệnh;
khổ khổ cực; khổ sở; khuông khổ; khổ giấy;
khởi mừng khấp khởi; khởi sự; khởi hành;
kỷ [cho mình] vị kỷ, ích kỷ; [ghi nhớ] kỷ niệm, kỷ yếu; [phép tắc] kỷ cương, kỷ luật;
kỷ [năm] niên kỷ, thế kỷ, kỷ nguyên; [bàn nhỏ] kỷ tra, trường kỷ; [toán] kỷ hà học [géométrie);
kỹ cũ kỹ; [khéo] kỹ lưỡng, kỹ nghệ, kỹ sư, kỹ thuật; [đào hát] kỹ nữ, ca kỹ;
lảnh lanh lảnh, lảnh lót;
lãnh [lạnh] phát lãnh, lãnh đạm; [thống suất] lãnh đạo, lãnh tụ, lãnh thổ;
lãnh hàng lãnh; [nhận lấy] bảo lãnh, lãnh lương; [hiểu rõ] lãnh hội;
lảo lảo đảo;
lão [già] lão thành; họ Lão;
lẩn lẩn quẩn, lẩn thẩn; [tránh] lẩn lút;
lẫn lẫn lộn, lú lẫn; [qua lại] giúp lẫn nhau;
lẻ [trái với chẵn] lẻ loi;
lẽ lặng lẽ; có lẽ, lý lẽ, lời lẽ;
lể kể lể; lể gai, lể ốc;
lễ lễ phép, lễ bái, lễ nghi;
lỗi [sai] lỗi lầm; [tài] lỗi lạc;
lở lở lói;
lỡ lỡ lầm, lỡ dở, lỡ làng;
lủ [tên 1 xã làm quạt, cốm ở Hà Ðông] Lủ;
lũ lam lũ; [bầy] lũ chó, lũ lượt, lũ khũ;
lủi lủi mất; lủi thủi
lủng lủng củng; lủng đáy; lủng lẳng
lũng lũng đoạn; thung lũng
lửa khói lửa;
lữa lẫn lữa;
lưỡi miệng lưỡi;
lưỡng kỹ lưỡng; [hai] lưỡng lự; lưỡng toàn;
mả mồ mả;
mã [đồ giấy] đồ mã, thợ mã; [ngựa] mã lực, phò mã; xứ Mã Lai; họ Mã;
mải [ham mê] mải mê, mải miết; [trước đông từ] mải làm, mải học;
mãi thương mãi; [luôn luôn] [sau động từ] ăn mãi, ngủ mãi;
mãn [đầy đủ] mỹ mãn; mãn hạn; xứ Mãn châu [Mandchourie);
mảnh [nhỏ yếu] mảnh mai; [tấm, miếng] mảnh chiếu, mảnh tình;
mãnh [mạnh] dũng mãnh, mãnh lực, mãnh liệt;
mẩn mê mẩn, tẩn mẩn;
mẫn [mau mắn] minh mẵn, cần mẫn; [thương xót] ưu thời mẫn thế;
mẩu [miếng nhỏ] mẩu truyện, mẩu bánh;
mẫu gương mẫu; [mẹ] mẫu tử; hoa mẫu đơn;
mẻ mới mẻ, mát mẻ; sứt mẻ, mẻ ơ;
mẽ mạnh mẽ;
mỉ tỉ mỉ;
mĩ mũ mĩ;
miễn miễn là; [gắng gượng] miễn cưỡng; [tha, khỏi] miễn thuế; miễn tội;
mỏ mỏ chim, mỏ ác; hầm mỏ, mỏ than;
mõ chuông mõ, gõ mõ;
mỏi mong mỏi; mệt mỏi; mòn mỏi;
mỗi [một] mỗi khi; mỗi người;
mở cởi mở; [khởi] mở đầu; mở hội, mở khoa thi;
mỡ dầu mỡ, khoai mỡ;
mủi mủi lòng;
mũi lỗ mũi; mũi nhọn, mũi ghe;
mỹ [đẹp] mỹ lệ, mỹ miều; Mỹ châu, tỉnh Mỹ tho; mỹ thuật
nảo kiểu nảo, nảo đơn;
não sầu não, não nùng; [óc] trí não, cân não; mã não, thạch não;
nảy nảy nở;
nãy hồi nãy, nãy giờ;
ngả [ngửa] ngả nghiêng; [nẻo, phía] đường đời muôn ngả;
ngã té ngã, ngã lòng, sa ngã; ngã ba, ngã bảy; [ta] bản ngã, duy ngã;
nghỉ nghỉ ngơi, nghỉ học;
nghĩ suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ ngợi;
nghĩa giải nghĩa; chữ nghĩa; đạo nghĩa; nghĩa vụ;
ngỏ [mở] thơ ngỏ; [bày tỏ] ngỏ lời;
ngõ [cổng] cửa ngõ; [lối đi] ngõ hẻm; [để mà] ngõ hầụ
ngoãn ngoan ngoãn;
ngỡ [tưởng] ngỡ là; bỡ ngỡ, ngỡ ngàng;
ngủ giấc ngủ;
ngũ [5] ngũ giác, ngũ sắc; [quân đội] hàng ngũ, nhập ngũ;
nguyễn họ Nguyễn;
ngưởng ngất ngưởng;
ngưỡng ngưỡng cửa; [trông lên] ngưỡng mộ, chiêm ngưỡng, tín ngưỡng;
nhả [nhổ] nhả cơm;
nhã [thanh tao] nho nhã, nhã nhặn;
nhãn trái nhãn; nhãn hiệu, nhãn thuốc; [nhỡn: con mắt] nhãn lực;
nhảy chạy nhảy;
nhẫn từ ấy nhẫn nay; [cà rá] nhẫn cước; [nỡ] nhẫn tâm, bất nhẫn;
nhểu nhểu nước
nhỏ bé nhỏ; nhỏ nước mắt;
nhởn nhởn nhơ;
nhỡn [nhãn, mắt] nhỡn tiền;
nhủ nhắn nhủ, khuyên nhủ;
nhũ [vú] nhũ hoa, nhũ mẫu, nhũ danh, thạch nhũ.
những chẳng những, những mong; [số nhiều] những kẻ, những khi;
nổ pháo não;
nỗ [cố gắng] nỗ lực;
nổi [không chìm] trôi nổi; [cạn, hời hợt] tánh tình nông nổi; nổi giận, nổi lửa, nổi tiếng; [làm được] làm nổi;
nỗi [tình cảnh] nỗi niềm; [khổ cực, éo le] đến nỗi; vì cờ bạc mà anh ta nghèo đến nông nỗi này;
nông nổi [cạn, hời hợt] tánh tình nông nổi; nổi giận, nổi lửa, nổi tiếng; [làm được] làm nổi;
nông nỗi [khổ cực, éo le] đến nỗi; vì cờ bạc mà anh ta nghèo đến nông nỗi này;
nở [khóc] nức nở; nảy nở, nứt nở, nơ nang;
nỡ niềm nỡ; [đang tâm] nỡ nào, nỡ đành;
nữ phụ nữ; nữ sĩ;
nửa phân nửa;
nữa còn nữa, lát nữa;
ổ ổ chim; ổ bánh;
phải phải trái; phải làm; phải nghe; [vừa ý] phải lòng;
phẵng bằng phẵng, phẵng lặng;
phẩn [cứt] phẩn heo;
phẫn [bực tức] phẫn nộ, phẫn uất;
phủ [vỗ về] phủ dụ; [cuối xuống] phủ phục; phủ nhận, phủ quyết;
phủ phủ phê; [dinh] phủ đường; [khu vực hành chánh] phủ, huyện, đốc phủ;
phũ phũ phàng;
quả quả quyết, quả thật, quả tang; hoa quả, nhân quả, kết quả; quả trầu; quả phụ;
quã quày quã, quây quã;
quản quản bút; [ngại] chẳng quản; bao quản; huyết quản; cai quản, quản lý;
quảng [rộng] quảng cáo, quảng đại; Quảng bình, Quảng trị;
quãng [khoảng] quãng đường; quãng không gian;
quyển quyển sách;
rả rỉ rả, rả rích;
rã rã rời, tan rã;
rải rải rác; gieo rải, rải tiền;
rãi chẫm rãi, rộng rãi;
rẻ mắt rẻ, khinh rẻ;
rẽ rành rẽ; chia rẽ, rẽ sóng;
rể chàng rể;
rễ gốc rễ;
rỏ [nhỏ] rỏ giọt;
rõ rõ rệt, rõ ràng;
rỡ rực rỡ, mừng rỡ;
rủ rủ rê, quến rủ; [buông xuống] liễu rủ, rủ màn;
rũ [gục xuống] ủ rũ, rũ rượi;
rửa rửa ráy, tắm rửa;
rữa [rã] hoa tàn nhị rữa;
rưởi [hay rưỡi] một giờ rưởi, một trăm rưởi;
rưỡi một giờ rưởi, một trăm rưởi;
sản sinh sản; tài sản; sản hậu; sản khoa; sản nghiệp; sản phẩm; sản phụ; sản xuất; cộng sản
sảnh con sáo, con sảnh; thị sảnh; đô sảnh;
sẵn sẵn sàng;
sẻ san sẻ, son sẻ; chim se sẻ;
sẽ sạch sẽ; sẽ tới, sẽ làm; [nhẹ] nói sẽ, ngủ sẽ thức;
sỉ mua sỉ; [xấu hổ] sỉ mạ, sỉ nhục;
sĩ [học trò] sĩ tử; [binh lính] binh sĩ, sĩ quan, chiến sĩ;
sĩ [người có học] văn sĩ, bác sĩ; [làm quan] xuất sĩ, trí sĩ;
sổ sổ mũi; sút sổ, sổ lòng; cuốn sổ, sổ bộ; cửa sổ;
sỗ sỗ sàng;
sở khổ sở; [lý do] sở dĩ; [nơi chốn] xứ sở; [chổ làm việc] trụ sở, công sở; [miếng] sở đất; [nói về mình] sở trường, sở nguyện;
sỡ sặc sỡ, sờm sỡ;
sủng sủng ái
sử lịch sử; sử ký;
sửa sửa sang, sửa chữa;
sữa sữa bò, vú sữa;
sửng sửng sờ; sửng sốt
sững sừng sững
sưởi sưởi nắng
tả tả tơi, tất tả; [trái] tả hữu, tả dực; [bày tỏ] mô tả, ám tả; tả đạo; thổ tả, ẩu tả;
tã tầm tã; [vải lót] tấm tã;
thả thong thả; thả diều; thả tội;
thảm tấm thảm; thảm thương; thảm đạm;
thảy hết thảy; cả thảy;
thẳng thủng thẳng; ngay thẳng;
thể có thể; luôn thể; thân thể; thể chất; thể chế; thể lệ
thổ lãnh thổ; thổ dân; thổ huyết; thổ tả;
thưởng thưởng thức; thưởng phạt;
tiễn [đưa] tiễn hành; [mũi tên] lệnh tiễn, hỏa tiễn; [thực hành] thực tiễn;
tỉnh tỉnh táo, tỉnh ngộ; tỉnh thành, tỉnh lỵ;
tĩnh [im lặng] thanh tĩnh, tĩnh mịch, tĩnh dưỡng;
tỏ sáng tỏ; tỏ rạng; bày tỏ; phân tỏ;
tổ [ổ] tổ chim; tổ quốc; tổ tiên;
trả trả giá; trả lời; trả ơn;
trải trang trải; trải chiếu; từng trải; trải qua;
trẻ trẻ tuổi
trẻo trong trẻo
trẽn trơ trẽn
trễ trễ nải; [một cách bắt cá] ghe trễ;
trổ chạm trổ; trổ bông;
trở trở về; xoay trở; trở lực; hiểm trở;
trữ tích trữ;
trưởng trưởng tử; trưởng thành; trưởng giả;
tủ tủ kiếng; tủ cẩn;
tủm tủ tỉm
tuổi tuổi tác; tuổi vàng;
tử tử tế; hiếu tử; trưởng tử; tự tử; tử thi;
tưởng tưởng tượng; tưởng niệm; tưởng lệ;
vả vất vả; vả lại, vả chăng; xỉ vã, vả miệng;
vã vội vã, cãi vã; [toát ra] vã mồ hôi; vồn vã;
vải hàng vải, bông vải; trái vải;
vãi sãi vãi; vãi vạ, vãi chài;
vãn ve vãn, chuyện vãn; [tan] vãn hát; [kéo lại] cứu vãn, vãn hồi; [chiều] vãn cảnh, vãn du;
vảng lảng vảng;
vãng [đi qua lại] vãng lai; [đã qua] dĩ vãng, quá vãng;
vảy vảy cá; vảy nước; vảy tay; vảy mực; vảy ghẻ;
vẳng nghe văng vẳng;
vẩn vẩn vơ; [đục] nước vẩn;
vẫn vẫn còn; [cắt cổ] tự vẫn;
vẩy ve vẩy;
vẫy vẫy đuôi; vẫy tay; vẫy vùng;
vẻ vẻ vang, vui vẻ, vắng vẻ; [dáng ngoài] vẻ đẹp, vẻ buồn;
vẽ chỉ vẻ, vẽ vời, vẽ tranh; vẹn vẽ, võ vẽ; vẽ cá, vẽ thịt; ong vò vẽ;
vẻn vẻn vẹn; vẻn vang;
vẻo vắt vẻo;
vỉ vỉ bánh;
vĩ [to lớn] vĩ đại, hùng vĩ; vĩ tuyến, vĩ đạo; [đuôi] thủ vĩ;
viển [vu vơ] viển vong;
viễn vĩnh viễn; [xa] viễn du, viễn thông, viễn kính;
vĩnh [lâu dài] vĩnh viễn, vĩnh biệt;
vỏ vỏ cây; vỏ cua; vỏ ốc; vỏ xe;
võ võ vẽ; [gầy ốm] võ vàng; võ nghệ, võ bi,;
vỏm vỏm đá [tảng]
vỏn vỏn vẹn;
võng cái võng; địa võng;
vổ răng vổ [hô]; vổ thô;
vỗ vỗ tay; vỗ về; sóng vỗ;
vỗ vỗ về; vỗ tay;
vổng vổng đầu; vổng đòn; vổng cân;
vở sách vở; vở tuồng;
vỡ vạm vỡ; [bể] đổ vỡ, vỡ đầu; vặm vỡ;
vởn vởn vơ; lởn vởn;
vũ [mưa] đảo vũ, vũ lộ; [võ] vũ bị, vũ lực; [múa] khiêu vũ; [thế giới] vũ trụ;
vữa [rữa] trứng vữa;
vửng xửng vửng; vơ vửng;
vững vững chãi, vững vàng, vững bền;
xả xong xả; [buông] xả tóc, xả buồm; [cổi, bỏ] xả tang, xả thân;
xã làng xã, xã hội, xã giao; [thần đất] xã tắc;
xẻ xẻ cây, chia xẻ
hobieuchanh.org
500+ Vietnamese words with Hook or Tilde
500+ mots vietnamiens avec "crochet en chef" et "tilde"
(Unicode font)
ả ả đào; ả hằng;
ả êm ả; óng ả;
ải [mục, rữa]; cửa ải; quan ải
ảnh [hình bóng] diện ảnh ; ảnh hưởng; ám ảnh; ảnh ương [ĩnh ương];
ảo [mơ hồ] ảo ảnh; ảo huyền; ảo thuật;
ẵm bồng ẵm;
ẩm [uống] ẩm tửu; ẩm thực;
ẩm ẩm thấp; ẩm ướt; ế ẩm;
ẩn [giấu] ẩn dật; ẩn sĩ; bí ẩn;
ẩn [thương hại] lòng trắc ẩn
ẩu ẩu tả;
bả bươn bả; bả vai; [mồi độc] bả vinh hoa;
bã buồn bã; bã mía, bã trầu;
bải bải buôi, bải hoải; bai bải [chối];
bãi bợm bãi; bãi biển, bãi cỏ; [bỏ, thôi] bãi chầu, bãi trường;
bản [bổn: thuộc về mình] bản ngã; bản năng;
bản [gốc] bản lãnh; căn bản;
bản bản đàn; bản thảo; bản đồ; bản lề;
bảng bảng lảng; [biển đặt trên cao] bảng đen, bảng thống kê;
bãng [roi] thiết bãng, thước bãng;
bảo chỉ bảo; [quí] bảo vật; [giữ gìn] bảo tồn, bảo vệ, bảo đảm;
bão bão tố; [ôm ấp] hoài bão;
bảy [7] số bảy; thứ Bảy; bóng bảy;
bãy bãy biển, bãy cỏ; [bỏ, thôi] bãy chầu, bãy trường; bừa bãy;
bẳm chăm bẳm;
bẵng bẵng lặng; im bẵng;
bẩm bẩm chất, bẩm sinh; bẩm thưa; lẩm bẩm;
bẫm cuốc bẫm;
bẩn [dơ] bẩn thỉu;
bẩn xẩn bẩn; bẩn chật;
bẩy [7, bảy] số bảy; thứ Bẩy; bây bẩy; đòn bẩy; bóng bẩy;
bẻ bẻ lái; bác bẻ, bẻ gãy; vọp bẻ;
bẽ bẽ bàng; bẽ mặt;
bẽn bẽn lẽn;
bẻo bẻo lẻo; chèo bẻo [chim]; chút bẻo;
bẽo bạc bẽo; lạt bẽo;
bể bể khơi; bể nát; bể nghể; đồ bể; làm bể;
bễ bễ nghễ [dòm ngó]
bỉ bền bỉ; khinh bỉ; bỉ bạc, bỉ mặt; bỉ ổi;
bĩ [bế tắc] vận bĩ; bĩ cực;
biển [gian trá] biển thủ;
biển [hẹp hòi] tính biển lận;
biển sông biển;
biểu biểu diễn, biểu dương, biểu hiệu; đại biểu, tiêu biểu;
bỉu bỉu môi;
bỏ bỏ dở, bỏ túi;
bõ [bù lại] bõ ghét, bõ phiền;
bỏm nhai bỏm bẻm;
bõm lõm bõm, nhẹ bõm;
bỏng bỏng da [phỏng]; bỏng lửa; bé bỏng; lỏng bỏng;
bổ bổ dưỡng; bổ đồng; bổ ích; bổ khuyết;
bỗ bỗ bã [thừa];
bổng bay bổng, bổng trầm; lương bổng;
bỗng bỗng nhiên bỗng chốc;
bởi [duyên cớ] bởi vì; bởi thế;
bủm bủm miệng; bủm đít;
bũm lũm bũm; ngập bũm;
bủn bủn rủn, bủn xỉn; thịt bủn [ươn];
bủng bủng beo, bủng teo; mặt bủng da chì;
buổi buổi sáng; buổi chợ; buổi cơm;
bửa bửa củi;
bữa bữa cơm; [ngày] bữa nay, bữa kia;
bưởi bưởi bòng; trái bưởi;
cả [lớn] anh cả; già cả;
cả cả giận; cả cười;
cả cả thảy; tất cả;
cả giá cả;
cả ông hương cả [chức lớn)
cải rau cải; [đổi] cải cách, cải trang;
cãi cải lẫy;
cảm [dám] cảm tử;
cảm [rung động] cảm động; cảm giác; cảm tình;
cảm [xâm nhập] cảm gió; cảm nắng;
cản ngăn cản;
cảng [cửa biển] hải cảng; xuất cảng;
cảng [tiếng kêu] lảng cảng;
cảnh [báo trước] cảnh cáo; cảnh tỉnh;
cảnh [hình sắc] phong cảnh;
cảnh [phong giữ] cảnh sát; cảnh binh;
cảnh [tình tra,ng] cảnh ngộ; hoàn cảnh;
cảo cảo bản; cảo táng; lai cảo;
cảu cảu rảu;
cẳng chân cẳng; cẳng cẳng [chó kêu]
cẩm [có bông] cẩm thạch; cẩm vân;
cẩm [gấm vóc] cẩm bào; cẩm nhung;
cẩm lẩm cẩm
cẩn [giữ] cẩn thận; cẩn mật;
cẩn [khảm] tủ cẩn
cẩn [kính] cẩn cáo; cẩn bạch;
cẩu cẩu thả; cẩu hợp; cẩu trệ; hải cẩu;
chả chả cần; chả giò; cha chả; thằng chả;
chã chã chẹt; bã chã; lã chã;
chải chải chuốt; chải tóc; bàn chải; bươn chải;
chãi vững chãi;
chảng chảng hai, chảng ba [nhánh cây]; trâu chảng;
chảo chảo đụn; cái chảo;
chảu chẩu môi [chúm]
chảy trôi chảy; nước chảy;
chẵn chẵn chòi; chẵn lẻ;
chẳng chẳng có; chẳng nên; chẳng phải; phải chẳng;
chẫm [chậm] chẫm rãi;
chẻ chẻ củi;
chẽ chặt chẽ;
chẻn chẻn hoẻn [vừ chừng]; vừa chẻn;
chẽn chẽn dừng;
chỉ [thuộc về vua] chỉ dụ; chỉ định;
chỉ chỉ dẫn; chỉ chỏ;
chỉ sợi chỉ;
chỉa chỉa ba;
chĩa chĩa súng;
chỉn chỉn e; chỉ ghê; chỉn khôn; chỉn thật;
chỉnh chỉnh đốn; chỉnh lý; chỉnh mảng; chỉnh tề; điều chỉnh, tu chỉnh
chĩnh cái hũ [mưa như cần chĩnh ma đổ];
chỏ cánh chỏ; cùi chỏ; kiếng chỏ;
chõ chõ miệng, chõ xôi; cái chõ [nồi];
chỏang choảng nhau, choảng lộn;
chỏi chỏi lỏi;
chõi chống chõi; chõi hỏi; chõi lại;
chỏm chỏm đá; chỏm tóc; lỏm chỏm;
chõm ngồi chõm chọe; cực chõm; mặt chõm;
chỏn lỏn chỏn;
chõn cá chõn;
chỏng lỏng chỏng;
chõng chõng tre; giường chõng; lều chõng;
chỗ chỗ ở; nằm chỗ;
chổng chổng gọng; chổng mông; lật chổng;
chở che chở;
chở chuyên chở;
chuỗi [xâu] chuỗi hỗ; chuỗi ngày;
chử nhớ chử dạ;
chữ chữ nghĩa; chữ viết;
chửa có chửa [thai nghén);
chữa sửa chữa, chữa lửa;
chửi chửi bới; mắng chửi; chửi thề; chửi rủa;
chửng chửng cứu; nuốt chửng ngay một lần;
chững chững chạc; chập chững; lững chững; đứng chững;
cỏ [giống rừng, nhỏ] heo cỏ; giặc cỏ
cỏ cây cỏ
cỏi cứng cỏi; kém cỏi;
cõi [miền] bờ cõi, cõi tiên;
cỏm cỏm rỏm;
cõm già cõm;
cõng cõng rắn cắn gà nhà;
cổ đầu cổ; [xưa] cổ tích, cổ nhân; [cái trống] cổ động, cổ võ; cổ phần;
cỗ [bộ] cỗ bài, cỗ xe; cỗ bàn, cỗ bánh;
cổi [cởi] cổi áo, cổi mở;
cỗi cằn cỗi; cỗi rễ, cỗi phúc;
cổng cổng làng; kín cổng; mở cổng
cỡ cỡ chừng, cỡ nào; lỡ cỡ; mất cỡ / mắc cỡ;
cởi [cổi] cởi mở;
cỡi [cưỡi] cỡi ngựa;
củ củ cải, củ khoai; [phép tắc] qui củ;
cũ cũ kỹ, cũ càng;
của [tài sản] của cải;
của [thuộc về] của tôi; của anh;
củi củi đước; đốn củi;
cũi cũi chén; cũi sắt [chuồng]; tháo cũi;
củng lủng củng; [bền chặt] củng cố;
cũng cũng như, cũng thế;
cử thi cử, cử nhơn; [cất lên] cử chỉ, cử động; [np^?i dậy] cử binh, cử sự;
cữ cữ kiêng; cữ rét, cữ bú;
cửa cửa nhà; cửa sổ;
cửi canh cửi; khung cửi; mắc cửi;
cưởng con cưởng;
cưỡng cưỡng bách; miễn cưỡng;
cửu [9/chín] cửu tuyền, cửu chương; [lâu] trường cửu, vĩnh cửu;
cữu linh cữu [quan tài);
dả dư dả;
dã dã dượi; thôn dã; dã sữ; [sử không chánh thức);
dã dã man; dã rượu; dã tâm; dã tràng;
dải [dây] dải yếm, dải cờ;
dãi dãi dâu, dãi nắng; dãy nhà;
dảnh cá dảnh;
dão nước dão; trà dão;
dãy dãy núi; dãy phố;
dẩn dớ dẩn;
dẫn dẫn cớ; dẫn dắt; chỉ dẫn; dẫn giải;
dẩu giàu dẩU
dẫu dẫu cho; dẫu mà;
dẫy dẫy đầy; nước dẫy; tràn dẫy;
dẻ cây dẻ; da dẻ;
dẻo dẻo dai; dẻo sức; bánh dẻo; bền dẻo; mềm dẻo;
dể khinh dể, dể ngươi;
dễ dễ dãi, dễ dàng;
dỉ dỉ hơi; dỉ nước mắt; dỉ tai;
dĩ dạn dĩ; sỡ dĩ; bất đắc dĩ; dĩ vãng;
dĩa chén dĩa;
diễm diễm lệ; diễm sắc;
diễn [trình bày] diễn văn; diễn giả;
dỏ dỏ canh [nhà];
dõ chim dõ dẽ;
dỏi dỏi dắng;
dõi dòng dõi; theo dõi;
dỏm dí dỏm;
dõng dõng dạc; dõng mạnh; dõng sĩ;
dỗ dạy dỗ; cám dỗ; dỗ dành; dụ dỗ;
dỗng ở dỗng [ở truồng];
dở giỏi dở; lỡ dở, dở dang; dở nón, dở sách, dở tài;
dỡ [phanh phui, lấy ra] dỡ nhà, dỡ cơm, dỡ chuyện cũ;
dũng [dõng] dũng mãnh; anh dũng;
duỗi duỗi chơn; duỗi tay; duỗi thẳng;
dữ dữ ác; dữ tợn;
dữ hung dữ
dửng dửng dưng; dửng gáy; dửng tóc;
dưỡng [nuôi] bổ dưỡng; dưỡng;
đả [đánh] đả đảo, ấu đả;
đã đã qua, đã xong; [thỏa mãn] ăn đã, chơi đã;
đãi [gạn lấy] đãi đậu; đãi vàng; tiếp đãi; đãi đằng;
đảm [gánh vác] đảm đương; dảm nhiệm;
đảm bảo đảm; can đảm;
đảng [phe] đảng phái; [làng xóm] hương đảng;
đãng [hay quên] đãng trí; [rộng lớn] quang đãng; [phóng túng] du đãng;
đảo [cầu mưa] đảo võ;
đảo [cù lao] hải đảo; bán đảo;
đảo [quay ngược] đảo lộn; đảo chánh;
đẻ sanh đẻ;
đẽ đẹp đẽ;
để đặt để; [dưới đáy] triệt để, hải để; [chống lại] để kháng;
đễ hiếu đễ;
điểm [chấm, chỗ] cu_.c điểm; yếu điểm;
điểm [đếm, tra xét] điê/m binh; kiểm điểm;
điểm điểm tâm;
điểm khuyết điểm;
điển [kinh sách] điển tích; [khuôn] điển hình;
điễn [điện] điễn khí;
đỏ màu đỏ;
đỏ nói đỏ đẻ;
đổ đổ bể, đổ nước; [đánh bạc] đổ bác;
đỗ [đậu] thi đỗ, đùm đỗ; [hạt đỗ] đỗ lạc; [con cuốc] đỗ quyên; họ Ðỗ;
đổi thay đổi;
đỗi [độ] chừng đỗi, đến đỗi;
đỡ [bớt] đỡ đau; đỡ đói;
đỡ [giup', nâng lên] giúp đỡ; nâng đỡ;
đủ đầy đủ;
đủ trái đu đủ;
gả cưới gả;
gã [người] gã kia;
giả giả dối; [ví phỏng] giả sử, hoặc gia; độc giả, đọc giả, tác giả, trưởng giả;
giã giặc giã, giòn giã, giục giã, từ giã; giã gạo;
giải giải thưởng; giải tù; đẫn giải; giải thích; giải vây; giải thoát;
giảm giảm bớt;
giản giản dị; giản tiện; đơn giản;
giảng giảng giải; giảng hòa;
giảnh giảnh tai [vểnh];
giảo giảo giá; gian giảo, xử giảo;
giãy giãy bày; giãy tỏ;
giẵm giẵm bùn; giẵm nát;
giẫy giẫy giụa; giẫy cỏ; giẫy mả;
giẻ giẻ rách; nùi giẻ;
giễu giễu cợt; nói giễu;
giỏ giỏ hoa; cái giỏ;
giõ [đưa tới] giõ miệng; giõ tai;
giỏi giỏi dở; mạnh giỏi;
giỏng giỏng đuôi;
giỗ đám giỗ;
giỗi giận giỗi; hờn giỗi;
giỡn giỡn chơi; cười giỡn;
giữ giữ gìn;
giữa chính giữa;
gổ gây gổ;
gỗ [cây] đồ gỗ;
gở quái gở;
gỡ gặp gỡ; chải gỡ, gỡ rối;
gởi gửi; gởi thơ; gởi gắm;
hải [biển] hải cảng, hải đăng;
hãi [sợ] hãi hùng, kinh hãi;
hãm [cầm giữ] hãm thắng; giam hãm; hãm hại; hãm hiếp;
hảo [tốt] hảo tâm, Hòa Hảo;
hão [không thực] hão huyền;
hãy [vẫn] hãy còn; [sai khiến] hãy nghe; hãy làm;
hẳn chắc hẳn; hẳn hoi; hẳn là;
hể hể hả;
hễ [nếu] hễ mà;
hiểm hiểm trở;
hiển hiển hách; hiển vinh; hiển vi;
hiểu hiểu biết;
hoãn hoãn dịch; hoãn lại
hoảng hoảng hốt; khủng hoảng;
hỏi dấu hỏi; hỏi han; bánh hỏi
hổ hổ thẹn; [cọp] hổ báo, hổ cốt; rắn hổ, chuỗi hổ;
hỗ hỗ trợ;
hổn [thở] hổn hển;
hỗn [vô lễ] hỗn hào; [không thứ tự] hỗn độn, hỗn loạn;
hở hăm hở; hớn hở; lỗ hở; hở chuyện;
hởi [thỏa] hởi lòng, hởi dạ;
hỡi hỡi đồng bào;
hủ hủ hỉ; [không hợp thời] hủ lậu, hủ tục, hủ bại;
hũ hũ rượu, hũ mắm;
hửng chưng hửng; hửng sáng, hửng nắng;
hững hững hờ;
hữu [bạn] bằng hữu; ái hữu;
hữu [bên phải] tả hữu; hữu dực
hữu [có] hữu lý; hữu duyên;
kẻ [người] kẻ kia; [vạch] kẻ hàng;
kẽ cặn kẽ; kẽ hở, kẽ tay;
khoản khoản đãi
khoảng khoảng cách
khỏe mạnh khỏe;
khỏi qua khỏi; khỏi bệnh;
khổ khổ cực; khổ sở; khuông khổ; khổ giấy;
khởi mừng khấp khởi; khởi sự; khởi hành;
kỷ [cho mình] vị kỷ, ích kỷ; [ghi nhớ] kỷ niệm, kỷ yếu; [phép tắc] kỷ cương, kỷ luật;
kỷ [năm] niên kỷ, thế kỷ, kỷ nguyên; [bàn nhỏ] kỷ tra, trường kỷ; [toán] kỷ hà học [géométrie);
kỹ cũ kỹ; [khéo] kỹ lưỡng, kỹ nghệ, kỹ sư, kỹ thuật; [đào hát] kỹ nữ, ca kỹ;
lảnh lanh lảnh, lảnh lót;
lãnh [lạnh] phát lãnh, lãnh đạm; [thống suất] lãnh đạo, lãnh tụ, lãnh thổ;
lãnh hàng lãnh; [nhận lấy] bảo lãnh, lãnh lương; [hiểu rõ] lãnh hội;
lảo lảo đảo;
lão [già] lão thành; họ Lão;
lẩn lẩn quẩn, lẩn thẩn; [tránh] lẩn lút;
lẫn lẫn lộn, lú lẫn; [qua lại] giúp lẫn nhau;
lẻ [trái với chẵn] lẻ loi;
lẽ lặng lẽ; có lẽ, lý lẽ, lời lẽ;
lể kể lể; lể gai, lể ốc;
lễ lễ phép, lễ bái, lễ nghi;
lỗi [sai] lỗi lầm; [tài] lỗi lạc;
lở lở lói;
lỡ lỡ lầm, lỡ dở, lỡ làng;
lủ [tên 1 xã làm quạt, cốm ở Hà Ðông] Lủ;
lũ lam lũ; [bầy] lũ chó, lũ lượt, lũ khũ;
lủi lủi mất; lủi thủi
lủng lủng củng; lủng đáy; lủng lẳng
lũng lũng đoạn; thung lũng
lửa khói lửa;
lữa lẫn lữa;
lưỡi miệng lưỡi;
lưỡng kỹ lưỡng; [hai] lưỡng lự; lưỡng toàn;
mả mồ mả;
mã [đồ giấy] đồ mã, thợ mã; [ngựa] mã lực, phò mã; xứ Mã Lai; họ Mã;
mải [ham mê] mải mê, mải miết; [trước đông từ] mải làm, mải học;
mãi thương mãi; [luôn luôn] [sau động từ] ăn mãi, ngủ mãi;
mãn [đầy đủ] mỹ mãn; mãn hạn; xứ Mãn châu [Mandchourie);
mảnh [nhỏ yếu] mảnh mai; [tấm, miếng] mảnh chiếu, mảnh tình;
mãnh [mạnh] dũng mãnh, mãnh lực, mãnh liệt;
mẩn mê mẩn, tẩn mẩn;
mẫn [mau mắn] minh mẵn, cần mẫn; [thương xót] ưu thời mẫn thế;
mẩu [miếng nhỏ] mẩu truyện, mẩu bánh;
mẫu gương mẫu; [mẹ] mẫu tử; hoa mẫu đơn;
mẻ mới mẻ, mát mẻ; sứt mẻ, mẻ ơ;
mẽ mạnh mẽ;
mỉ tỉ mỉ;
mĩ mũ mĩ;
miễn miễn là; [gắng gượng] miễn cưỡng; [tha, khỏi] miễn thuế; miễn tội;
mỏ mỏ chim, mỏ ác; hầm mỏ, mỏ than;
mõ chuông mõ, gõ mõ;
mỏi mong mỏi; mệt mỏi; mòn mỏi;
mỗi [một] mỗi khi; mỗi người;
mở cởi mở; [khởi] mở đầu; mở hội, mở khoa thi;
mỡ dầu mỡ, khoai mỡ;
mủi mủi lòng;
mũi lỗ mũi; mũi nhọn, mũi ghe;
mỹ [đẹp] mỹ lệ, mỹ miều; Mỹ châu, tỉnh Mỹ tho; mỹ thuật
nảo kiểu nảo, nảo đơn;
não sầu não, não nùng; [óc] trí não, cân não; mã não, thạch não;
nảy nảy nở;
nãy hồi nãy, nãy giờ;
ngả [ngửa] ngả nghiêng; [nẻo, phía] đường đời muôn ngả;
ngã té ngã, ngã lòng, sa ngã; ngã ba, ngã bảy; [ta] bản ngã, duy ngã;
nghỉ nghỉ ngơi, nghỉ học;
nghĩ suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ ngợi;
nghĩa giải nghĩa; chữ nghĩa; đạo nghĩa; nghĩa vụ;
ngỏ [mở] thơ ngỏ; [bày tỏ] ngỏ lời;
ngõ [cổng] cửa ngõ; [lối đi] ngõ hẻm; [để mà] ngõ hầụ
ngoãn ngoan ngoãn;
ngỡ [tưởng] ngỡ là; bỡ ngỡ, ngỡ ngàng;
ngủ giấc ngủ;
ngũ [5] ngũ giác, ngũ sắc; [quân đội] hàng ngũ, nhập ngũ;
nguyễn họ Nguyễn;
ngưởng ngất ngưởng;
ngưỡng ngưỡng cửa; [trông lên] ngưỡng mộ, chiêm ngưỡng, tín ngưỡng;
nhả [nhổ] nhả cơm;
nhã [thanh tao] nho nhã, nhã nhặn;
nhãn trái nhãn; nhãn hiệu, nhãn thuốc; [nhỡn: con mắt] nhãn lực;
nhảy chạy nhảy;
nhẫn từ ấy nhẫn nay; [cà rá] nhẫn cước; [nỡ] nhẫn tâm, bất nhẫn;
nhểu nhểu nước
nhỏ bé nhỏ; nhỏ nước mắt;
nhởn nhởn nhơ;
nhỡn [nhãn, mắt] nhỡn tiền;
nhủ nhắn nhủ, khuyên nhủ;
nhũ [vú] nhũ hoa, nhũ mẫu, nhũ danh, thạch nhũ.
những chẳng những, những mong; [số nhiều] những kẻ, những khi;
nổ pháo não;
nỗ [cố gắng] nỗ lực;
nổi [không chìm] trôi nổi; [cạn, hời hợt] tánh tình nông nổi; nổi giận, nổi lửa, nổi tiếng; [làm được] làm nổi;
nỗi [tình cảnh] nỗi niềm; [khổ cực, éo le] đến nỗi; vì cờ bạc mà anh ta nghèo đến nông nỗi này;
nông nổi [cạn, hời hợt] tánh tình nông nổi; nổi giận, nổi lửa, nổi tiếng; [làm được] làm nổi;
nông nỗi [khổ cực, éo le] đến nỗi; vì cờ bạc mà anh ta nghèo đến nông nỗi này;
nở [khóc] nức nở; nảy nở, nứt nở, nơ nang;
nỡ niềm nỡ; [đang tâm] nỡ nào, nỡ đành;
nữ phụ nữ; nữ sĩ;
nửa phân nửa;
nữa còn nữa, lát nữa;
ổ ổ chim; ổ bánh;
phải phải trái; phải làm; phải nghe; [vừa ý] phải lòng;
phẵng bằng phẵng, phẵng lặng;
phẩn [cứt] phẩn heo;
phẫn [bực tức] phẫn nộ, phẫn uất;
phủ [vỗ về] phủ dụ; [cuối xuống] phủ phục; phủ nhận, phủ quyết;
phủ phủ phê; [dinh] phủ đường; [khu vực hành chánh] phủ, huyện, đốc phủ;
phũ phũ phàng;
quả quả quyết, quả thật, quả tang; hoa quả, nhân quả, kết quả; quả trầu; quả phụ;
quã quày quã, quây quã;
quản quản bút; [ngại] chẳng quản; bao quản; huyết quản; cai quản, quản lý;
quảng [rộng] quảng cáo, quảng đại; Quảng bình, Quảng trị;
quãng [khoảng] quãng đường; quãng không gian;
quyển quyển sách;
rả rỉ rả, rả rích;
rã rã rời, tan rã;
rải rải rác; gieo rải, rải tiền;
rãi chẫm rãi, rộng rãi;
rẻ mắt rẻ, khinh rẻ;
rẽ rành rẽ; chia rẽ, rẽ sóng;
rể chàng rể;
rễ gốc rễ;
rỏ [nhỏ] rỏ giọt;
rõ rõ rệt, rõ ràng;
rỡ rực rỡ, mừng rỡ;
rủ rủ rê, quến rủ; [buông xuống] liễu rủ, rủ màn;
rũ [gục xuống] ủ rũ, rũ rượi;
rửa rửa ráy, tắm rửa;
rữa [rã] hoa tàn nhị rữa;
rưởi [hay rưỡi] một giờ rưởi, một trăm rưởi;
rưỡi một giờ rưởi, một trăm rưởi;
sản sinh sản; tài sản; sản hậu; sản khoa; sản nghiệp; sản phẩm; sản phụ; sản xuất; cộng sản
sảnh con sáo, con sảnh; thị sảnh; đô sảnh;
sẵn sẵn sàng;
sẻ san sẻ, son sẻ; chim se sẻ;
sẽ sạch sẽ; sẽ tới, sẽ làm; [nhẹ] nói sẽ, ngủ sẽ thức;
sỉ mua sỉ; [xấu hổ] sỉ mạ, sỉ nhục;
sĩ [học trò] sĩ tử; [binh lính] binh sĩ, sĩ quan, chiến sĩ;
sĩ [người có học] văn sĩ, bác sĩ; [làm quan] xuất sĩ, trí sĩ;
sổ sổ mũi; sút sổ, sổ lòng; cuốn sổ, sổ bộ; cửa sổ;
sỗ sỗ sàng;
sở khổ sở; [lý do] sở dĩ; [nơi chốn] xứ sở; [chổ làm việc] trụ sở, công sở; [miếng] sở đất; [nói về mình] sở trường, sở nguyện;
sỡ sặc sỡ, sờm sỡ;
sủng sủng ái
sử lịch sử; sử ký;
sửa sửa sang, sửa chữa;
sữa sữa bò, vú sữa;
sửng sửng sờ; sửng sốt
sững sừng sững
sưởi sưởi nắng
tả tả tơi, tất tả; [trái] tả hữu, tả dực; [bày tỏ] mô tả, ám tả; tả đạo; thổ tả, ẩu tả;
tã tầm tã; [vải lót] tấm tã;
thả thong thả; thả diều; thả tội;
thảm tấm thảm; thảm thương; thảm đạm;
thảy hết thảy; cả thảy;
thẳng thủng thẳng; ngay thẳng;
thể có thể; luôn thể; thân thể; thể chất; thể chế; thể lệ
thổ lãnh thổ; thổ dân; thổ huyết; thổ tả;
thưởng thưởng thức; thưởng phạt;
tiễn [đưa] tiễn hành; [mũi tên] lệnh tiễn, hỏa tiễn; [thực hành] thực tiễn;
tỉnh tỉnh táo, tỉnh ngộ; tỉnh thành, tỉnh lỵ;
tĩnh [im lặng] thanh tĩnh, tĩnh mịch, tĩnh dưỡng;
tỏ sáng tỏ; tỏ rạng; bày tỏ; phân tỏ;
tổ [ổ] tổ chim; tổ quốc; tổ tiên;
trả trả giá; trả lời; trả ơn;
trải trang trải; trải chiếu; từng trải; trải qua;
trẻ trẻ tuổi
trẻo trong trẻo
trẽn trơ trẽn
trễ trễ nải; [một cách bắt cá] ghe trễ;
trổ chạm trổ; trổ bông;
trở trở về; xoay trở; trở lực; hiểm trở;
trữ tích trữ;
trưởng trưởng tử; trưởng thành; trưởng giả;
tủ tủ kiếng; tủ cẩn;
tủm tủ tỉm
tuổi tuổi tác; tuổi vàng;
tử tử tế; hiếu tử; trưởng tử; tự tử; tử thi;
tưởng tưởng tượng; tưởng niệm; tưởng lệ;
vả vất vả; vả lại, vả chăng; xỉ vã, vả miệng;
vã vội vã, cãi vã; [toát ra] vã mồ hôi; vồn vã;
vải hàng vải, bông vải; trái vải;
vãi sãi vãi; vãi vạ, vãi chài;
vãn ve vãn, chuyện vãn; [tan] vãn hát; [kéo lại] cứu vãn, vãn hồi; [chiều] vãn cảnh, vãn du;
vảng lảng vảng;
vãng [đi qua lại] vãng lai; [đã qua] dĩ vãng, quá vãng;
vảy vảy cá; vảy nước; vảy tay; vảy mực; vảy ghẻ;
vẳng nghe văng vẳng;
vẩn vẩn vơ; [đục] nước vẩn;
vẫn vẫn còn; [cắt cổ] tự vẫn;
vẩy ve vẩy;
vẫy vẫy đuôi; vẫy tay; vẫy vùng;
vẻ vẻ vang, vui vẻ, vắng vẻ; [dáng ngoài] vẻ đẹp, vẻ buồn;
vẽ chỉ vẻ, vẽ vời, vẽ tranh; vẹn vẽ, võ vẽ; vẽ cá, vẽ thịt; ong vò vẽ;
vẻn vẻn vẹn; vẻn vang;
vẻo vắt vẻo;
vỉ vỉ bánh;
vĩ [to lớn] vĩ đại, hùng vĩ; vĩ tuyến, vĩ đạo; [đuôi] thủ vĩ;
viển [vu vơ] viển vong;
viễn vĩnh viễn; [xa] viễn du, viễn thông, viễn kính;
vĩnh [lâu dài] vĩnh viễn, vĩnh biệt;
vỏ vỏ cây; vỏ cua; vỏ ốc; vỏ xe;
võ võ vẽ; [gầy ốm] võ vàng; võ nghệ, võ bi,;
vỏm vỏm đá [tảng]
vỏn vỏn vẹn;
võng cái võng; địa võng;
vổ răng vổ [hô]; vổ thô;
vỗ vỗ tay; vỗ về; sóng vỗ;
vỗ vỗ về; vỗ tay;
vổng vổng đầu; vổng đòn; vổng cân;
vở sách vở; vở tuồng;
vỡ vạm vỡ; [bể] đổ vỡ, vỡ đầu; vặm vỡ;
vởn vởn vơ; lởn vởn;
vũ [mưa] đảo vũ, vũ lộ; [võ] vũ bị, vũ lực; [múa] khiêu vũ; [thế giới] vũ trụ;
vữa [rữa] trứng vữa;
vửng xửng vửng; vơ vửng;
vững vững chãi, vững vàng, vững bền;
xả xong xả; [buông] xả tóc, xả buồm; [cổi, bỏ] xả tang, xả thân;
xã làng xã, xã hội, xã giao; [thần đất] xã tắc;
xẻ xẻ cây, chia xẻ
hobieuchanh.org
Luật hỏi ngã trong chữ Việt
http://www.motgoctroi.com/StVChuong/Luathoinga_DXKien.htm
Luật hỏi ngã trong chữ Việt
Như đã trình bày trong một bài trước đây, một từ tiếng Việt chỉ mang một trong số sáu thanh. Thanh là yếu tố định bậc cao thấp trong thang âm sáu bậc của tiếng Việt hiện đại, và là yếu tố cần và đủ để tạo thành ý nghĩa khu biệt của một từ. Sáu bậc cao thấp đó được cụ thể hoá một cách dễ hiểu bằng sáu tiếng sau đây: ngang (hoặc không) - huyền - ngã - hỏi - sắc - nặng. Phân biệt bốn thanh khác không có khó khăn gì, nhưng hai thanh hỏi và ngã thì cần nhiều công phu. Từ nghỉ và nghĩ chẳng hạn, chỉ khác nhau ở một dấu hỏi hay ngã mà làm nên sự khác biệt về ý nghĩa của hai từ đó. So sánh hai câu dưới đây để thấy sự khác biệt giữa hai thanh hỏi và ngã làm nên sự khác biệt ý nghĩa của từ:
Thôi, đừng nghĩ ngợi làm gì cho mệt xác !
Thôi chứ, đã hết giờ nghỉ mệt rồi !
Cho nên lầm lẫn dấu hỏi ngã trong những trường hợp như thế sẽ thay đổi hẳn ý nghĩa của từ trong một câu. Phân biệt dấu hỏi và ngã là một việc tương đối dễ dàng đối với người nói giọng bắc, nhưng lại là một việc cần thiết cho những ai nói giọng trung và nam - nghĩa là người phát âm giọng tiếng Việt từ phía nam Thanh Hoá vào trong vùng tây nam bộ. Ðối với những người - đàng trong - thì phân biệt hỏi ngã dựa trên phát âm là chuyện khó chính xác, vì số từ ngữ tiếng Việt mang dấu hỏi và ngã là một khối lượng khá lớn. Do vậy, nếu nắm được một số những quy tắc hoạt động của thanh hỏi và thanh ngã thì sẽ giúp giải quyết những khó khăn về dấu hỏi - ngã.
Trong bài này chúng tôi cố gắng hệ thống hoá lại những nét chính của chính tả dấu hỏi ngã trong tiếng Việt. Vì việc phân biệt hỏi ngã có khác nhau giữa hai loại từ vựng trong tiếng Việt, chúng tôi sẽ chia bài thành hai phần chính: trước hết là phân biệt hai nhóm từ vựng trong tiếng Việt, sau đó mới tìm hiểu cách phân biệt hỏi-ngã trong từng nhóm loại từ vựng này.
NHẬN BIẾT MỘT TỪ TIẾNG VIỆT
Chúng ta biết rằng từ vựng tiếng Việt là tập hợp từ những nguồn khác nhau: nguồn thứ nhất là những từ ngữ rất lâu đời của cộng đồng ngôn ngữ Việt cổ thuộc họ ngôn ngữ Nam A¨; nguồn thứ hai là những từ ngữ vay mượn từ một ngôn ngữ khác, hoặc là từ tiếng Hán (tức là tiếng Hoa nói vào đời Hán), hoăc là từ một ngôn ngữ phương tây gần đây. Như vậy thì một từ tiếng Việt có thể là một từ "thuần Việt" (hay có khi còn gọi là tiếng nôm), cũng có thể là một từ Hán Việt, hoặc là một từ mới vay mượn từ một ngôn ngữ khác. Mỗi loại từ trên có những nét tính cách khác nhau về thanh. Nhận biết được một từ là thuộc nhóm từ nôm hoặc từ Hán Việt sẽ giúp giải quyết được một số khá nhiều những trường hợp cần phân biệt dấu hỏi ngã. Nhưng làm thế nào để phân biệt được đâu là một từ thuần Việt và đâu là một từ Hán Việt hoặc một từ vay mượn ?
Từ thuần Việt trước kia thường gọi chung đây là những "tiếng nôm", nói trại từ "tiếng nam", tức là tiếng của người nước Nam - để phân biệt với tiếng nói của người phương Bắc, tức là người Hán. Ðó là những từ có thể chuyển đổi thanh theo quy luật hài thanh, hoặc là những từ láy âm theo phép hoà phối ngữ âm. Chẳng hạn, từ nở, nóng, hỏi là những từ thuần Việt, vì chúng có thể tạo thành những từ láy âm: nở nang, nóng nảy, hỏ han. Một từ như đã, chẳng, dẫu là những từ thuần Việt, vì chúng có thể chuyển thanh điệu mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa: đà, chăng, dầu.
Từ Hán Việt là những từ đã vay mượn từ vốn từ vựng tiếng Hán từ cả gần hai nghìn năm trước đây, khi nhà Hán bên Trung Hoa sang đô hộ xứ mình. Số từ Hán Việt đã chiếm quá nửa số vốn từ của chúng ta hiện nay. Có thể nhận biết một từ Hán Việt hay không là nhờ mấy cách như sau:
Nếu một chữ hay một tiếng có thể ghép với các tiếng như nhất (một), hữu (có), vô (không), bất (chẳng), thì từ ấy phải là từ Hán Việt. Vậy thì từ nhân, ích, đạo, bình là những tiếng Hán Việt vì chúng có thể kết hợp có ý nghĩa với bốn tiếng trên kia: nhất nhân, hữu ích, vô đạo, bất bình.
Nếu một chữ hay một tiếng có nghĩa nhưng không thể đứng một mình làm thành một từ được mà chỉ có thể làm thành một thành phần của từ mà thôi, thì đó là một chữ Hán Việt. Ví dụ: những tiếng quốc (nước), gia (nhà), sơn (núi), hà (sông), nhất (một), nhị (hai),& thường chỉ ghép chúng với một tiếng khác chứ không thể dùng riêng rẽ được. Chẳng hạn, để nói ý "hai quả núi", người Việt không thể nói nhị núi hoặc hai quả sơn; cũng thế, có thể viết là nhất gia, sơn hà, nhị nhân... nhưng không thể nói một gia, núi hà, hai nhân. Vậy thì những tiếng quốc, gia, sơn hà, nhân, nhất, nhị là những tiếng Hán Việt.
Nếu gặp một chữ hoặc một tiếng mà ta không hiểu nghĩa, nhưng ta lại biết rằng chúng có thể ghép chung với hai từ mà lại có cùng ý nghĩa, thì đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: ta gặp từ trường sinh mà ta không biết tiếng trường là gì, nhưng biết là nó ghép chung với hai tiếng khác (trường dạ, trường kỉ), thì có thể đoán biết là trường là một tiếng Hán Việt có nghĩa là "dài"; hoặc là đọc đến mấy chữ tác nghiệp, ta không hiểu tác là gì, nhưng biết là có sáng tác, tác giả, thì đoán biết tác là một tiếng Hán Việt, có nghĩa đại khái là "làm ra cái gì đó".
Nếu một tiếng nào đó mặc dù quen dùng riêng rẽ trong lời nói hằng ngày, nhưng lại thấy chúng thường ghép trong ít nhất là hai từ Hán Việt, thì tiếng hoặc chữ đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: tiếng học là một từ quen dùng. Tiếng này có thể gặp trong những từ Hán Việt như học sinh, đại học, học vị. Vậy thì tiếng học là một tiếng Hán Việt. Thí dụ khác: tiếng chúng có thể gặp trong các từ Hán Việt như quần chúng, chúng sinh..., vậy thì chúng cũng là một tiếng Hán Việt.
Từ vay mượn: là những từ ngữ vay mượn từ vốn từ vựng của các ngôn ngữ khác, cụ thể là các ngôn ngữ phương tây. Từ khi giao tiếp với phương tây đến nay, tiếng Việt đã đưa vào kho từ vựng của mình những tiếng như xà phòng, (áo) sơ mi, xi măng, (dầu) xăng, cao bồi, (trái) bom, phim, (xe) ô tô, cuốc (xe), (bà) đầm, (bánh) quy, (nhà) băng, két (bạc), (kinh) xáng. Những tiếng vay mượn này hoặc được phiên âm trực tiếp từ một từ ngữ phương tây (xi măng, bom , phim , ô tô , băng ), hoặc được đọc trại âm theo lối phát âm của người Việt (xà phòng , sơ mi , xăng , cao bồi , cuốc , đầm , (bánh) quy , két , (kinh) xáng ). Những tiếng vay mượn này được cố gắng Việt hoá, cho nên cũng mang tất cả các thanh của tiếng Việt.
DẤU HỎI NGÃ ÐỐI VỚI TIẾNG THUẦN VIỆT
Một tính cách rất nổi bật của tiếng Việt là tính cách hoà phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép mà chúng ta thường gọi là từ láy. Những từ có hai âm tiết láy với nhau khi một hay nhiều thành phần âm tiết của hai âm tiết đó lặp lại giống hệt âm kia (gọi là điệp âm), hoặc kết hợp với âm kia theo một trật tự nào đó. Một vài thí dụ về từ láy: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ... Hiện tượng láy từ có tác dụng trước hết là sự cân đối, sự hài hoà giữa các âm tiết của từ. So sánh hai câu dưới đây:
2a Căn nhà này khá rộng.
2b Căn nhà này khá rộng rãi.
Cả hai câu nói đều đúng cách nói thông thường. Nhưng khi nói rộng rãi như trong câu 2b thì nghe êm ái hơn, dễ nghe hơn, và do đó được chuộng hơn.
Xem thế thì hoà phối ngữ âm là sự kết hợp hài hoà giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng. Hoà phối ngữ âm có thể thực hiện ở cả bốn thành phần âm tiết của từ:
Láy âm đầu: lững lờ, lờ vờ, lụng thụng
Láy âm chính: đo đỏ, gồ ghề, chúm chím, nhõng nhẽo
Láy âm cuối: mũm mĩm, hầm hập, ươn ướt
Láy thanh: thênh thang, vàng vọt, lả lơi, ngả ngớn
Ở đây chúng ta chỉ chú ý đến sự hoà phối ngữ âm về mặt thanh điệu. Sự phân bố cân phương này được gọi là luật hài thanh . Luật hài thanh được thể hiện qua hai hiện tượng liên quan đến hoạt động của thanh điệu tiếng Việt:
Trước hết là sự hài thanh giữa hai âm tiết của từ láy: đây là sự phân bố cân đối giữa các thanh giữa hai âm tiết của một từ kép thành từng đôi một trong mỗi nhóm dưới đây:
Nhóm thứ nhất (thanh bổng): ngang - hỏi - sắc
Nhóm thứ nhì (thanh trầm): huyền - ngã - nặng
Theo bảng trên đây, hai từ thuộc nhóm thứ nhất có thể mang một trong ba thanh:
Ngang - hỏi: lửng lơ, thơ thẩn, sang sảng
Hỏi - sắc: lở lói, ngả ngớn, vắng vẻ, gắng gỏi,
Ngang - sắc: diêm dúa, nghe ngóng, mang máng, líu lo, thối tha
Ba thanh thuộc nhóm thứ nhì được phân bố kết hợp như sau:
Huyền - ngã: ầm ĩ, lờ lững, vòi vĩnh, ỡm ờ, thẫn thờ,
Ngã - nặng: kĩu kịt, nũng nịu, nhão nhoẹt, hợm hĩnh, đẹp đẽ
Huyền - nặng: mờ mịt, vàng vọt, lặng lờ, mặn mà
Luật hài thanh còn thể hiện cả trong hiện tượng chuyển thanh điệu của một số từ. Tiếng Việt có nhiều từ biến đổi thanh mà vẫn không đổi ý nghĩa sang một từ khác. Hiện tượng chuyển đổi thanh trong tiếng Việt cũng theo phép hài thanh, nghĩa là các từ chuyển thanh theo hai nhóm mà Lê Ngọc Trụ (1959) tóm lại thành hai mô hình mà ông gọi là tan - tán - tản và lãi - lời - lợi. Phép chuyển thanh này như sau:
Ðổi thanh theo mô hình tan - tán - tản (nhóm ngang - hỏi - sắc). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:
chăng - chẳng
lén - lẻn
rảy - rưới
chưa - chửa
lỏm - lóm
túa - tủa / toả
không - hổng
thoáng - thoảng
há miệng - hả miệng
phản - ván
ham - hám
nói hở - nói hớ
tan - tản
bấu - bâu
vểnh mặt - vênh mặt
Ðổi thanh theo mô hình lãi - lời - lợi (nhóm huyền - ngã - nặng). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:
đã - đà
ngỡ - ngờ
chậm rãi - chẫm rãi
lời - lợi
cội - cỗi
ướt đẫm - ướt đầm
dẫu - dầu
còi - cỗi
đen sậm - đen sẫm
cũng - cùng
đỗ - đậu
xoã tóc - xoà tóc
(sông) Nhị - (sông) Nhĩ
thõng - thòng
ăn ruỗng - ăn ruồng
Ngoài ra, có một số từ Hán Việt và tiếng thuần Việt dường như có liên quan, gần gũi với nhau . Những trường hợp vay mượn qua lại như thế cũng tuân theo phép hài thanh của tiếng Việt, nghĩa là cũng theo một trong hai mô hình tan - tán - tản và lãi - lời - lợi. Dưới đây là một vài thí dụ về sự giao tiếp ngôn ngữ như thế:
huyền - ngã - nặng
ngang - hỏi - sắc
cưỡng - gượng
thiểu - thiếu
trữ - giữ
thố - thỏ
đãi - đợi
xả - xá
Biết được tính cách của luật hài thanh thì chúng ta có thể nêu lên thành luật gọi là "luật hỏi-ngã của các tiếng nôm" như sau:
Luật 1
khi hai tiếng có thể láy được với nhau thì hễ một tiếng mang dấu ngang (không dấu) hoặc dấu sắc thì tiếng kia phải mang dấu hỏi; ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng kia phải mang dấu ngã.
Luật 2
một từ có thể chuyển thanh điệu sang ngang hoặc sắc thì chắc chắn là mang dấu hỏi (theo mẫu tan - tán - tản); ngược lại, một tiếng có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng thì chắc chắn là có dấu ngã (theo mẫu lời - lãi - lợi).
Hai luật hỏi ngã này có thể giúp giải quyết được một số khá lớn các trường hợp mà người viết đang còn phân vân không biết nên bỏ dấu hỏi hay dấu ngã. Chẳng hạn, khi phải viết câu dưới đây, người nói giọng đàng trong có thể phân vân không biết bỏ dấu hỏi ngã thế nào:
3a Chị mơ gói thịt mơ ra rồi ngao ngán thơ dài.
Có thể dùng phép hài thanh (ngang hỏi sắc-huyền ngã nặng) để tìm ra được rằng: tiếng Việt có nói mở mang (làm cho rộng ra) theo luật ngang-hỏi-sắc, và có mỡ màng (có nhiều chất dầu, mỡ) theo luật huyền-ngã-nặng; lại cũng có thở than (than vãn chuyện gì) mà không có *thỡ (viết với dấu ngã). Vậy câu 3a bỏ dấu hỏi ngã như sau:
3b Chị mở gói thịt mỡ ra rồi ngao ngán thở dài.
Một thí dụ khác là khi viết câu dưới đây:
4a Ðứa bé đa ăn no rồi mà vân chưa chịu đi ngu.
Chúng ta biết là từ đã ở đây phải bỏ dấu ngã vì cũng có thể nói đà mà câu vẫn không đổi nghĩa. Từ vẫn mang dấu ngã vì phó từ này không có thể nhầm lẫn với từ vẩn - Có nghĩa là chất cặn bẩn, hoặc từ vẩn vơ (có nghĩa là tâm trạng không dứt khoát) theo luật ngang-hỏi-sắc. Từ ngủ ở cuối câu thì chỉ có thể láy thành ngủ nghê theo luật ngang-hỏi-sắc, nên phải mang dấu hỏi. Vậy thì câu 4a được viết hoàn chỉnh như sau:
4b Ðứa bé đã ăn no rồi mà vẫn chưa chịu đi ngủ.
Ngoài ra, cũng nên biết thêm là người Việt - nhất là người miền Nam - hay nói gộp các tiếng hai âm tiết thành một trong những trường hợp sau đây: phải không > phỏng, bà ấy > bả, ở bên ngoài ấy > ở ngoải, hôm ấy > hổm, năm ấy > nẳm, hồi ấy > hổi [7]. Tất cả những tiếng nói gộp trên đây đều mang dấu hỏi. Vậy thì có luật 3 như sau:
Luật 3
Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi
Trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại còn có một nhóm nhỏ những từ ngữ nước ngoài nhưng đã được chuyển sang giọng đọc tiếng Việt. Các tiếng vay mượn thường được phiên chuyển sang thanh hỏi: moả (< moi), xừ luỷ (< lui), đi rỏn (< ronde), sở cẩm (< commissaire de police), làm cỏ vê (< corvée). Vậy có thể nêu thành luật cho loại từ ngữ này như sau:
Luật 4
các tiếng vay mượn từ tiếng nước ngoài và đã chuyển sang giọng tiếng Việt, thì thường viết với dấu hỏi.
DẤU HỎI NGÃ CỦA TỪ HÁN VIỆT
Như đã nói ở trên, nhận biết được một từ Hán Việt sẽ có lợi rất lớn là phân biệt được một phần khá lớn những từ mang dấu hỏi ngã thuộc nhóm từ Hán Việt. Giở từ điển Hán Việt, ta có thể thấy là:
(1) Những từ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm d, l, m, n. nh, ng, v thường viết dấu ngã . Có khoảng 180 từ Hán Việt mang dấu ngã. Ví dụ:
Phụ âm d: dã, dĩ, dũ, dữ.
Phụ âm l: lão, lễ, lỗ, lữ
Phụ âm m: mão, mãnh, mẫn, mỗ
Phụ âm n: não, nễ, nỗ, nữ
Phụ âm ng: ngã, ngỗ, ngũ, ngữ
Phụ âm nh: nhã, nhĩ, nhũ, nhữ
Phụ âm v: vẫn, vĩ, viễn, vũ
(2) Ngoài những trường hợp kể trên, các từ Hán Việt khác bắt đầu bằng các phụ âm khác đều viết dấu hỏi, trừ những lệ ngoại sẽ nói ở dưới. Ví dụ về các từ Hán Việt có dấu hỏi:
Nguyên âm:
ả, ảo, ẩn, yểu, uẩn, uỷ.
Phụ âm
b
bảo, bỉ, bỉnh, bổng, bửu
c/k/q
cảo, cổ, củ, kỉ, kiểu, quả, quản, quảng, quỷ
đầu ch
chỉ, chiểu, chuẩn, chủng, chử
đầu đ
đả, đẩu, để, điểu, đổ
gi
giả, giảo,
h
hảo, hỉ, hổ, hủ
đầu kh
khả, khẩu, khổ, khởi
ph
phả, phỉ, phổ
s
sỉ, sổ, sửu
t
tả, tảo, tể, tỉ, tổ, tử
th
thải, thổ, thủ, thưởng
tr
trảo, trảm, triển, trưởng
x
xa, xả, xảo, xỉ, xử
Nhóm thứ nhì này có khoảng 30 trường hợp ngoại lệ, cần nhớ thuộc lòng. Dưới đây là bảng liệt kê các từ đó với những thí dụ về từ ghép đặt trong ngoặc:
Phụ âm
b
bãi (bãi thị, bãi nại), bĩ (bĩ vận),
c
cữu (linh cữu), cưỡng (cưỡng đoạt)
đ
đãng (khoáng đãng), đễ (hiếu đễ), đỗ (Ðỗ thị)
h
hãm (hãm hại), hãn (hãn hữu), hoãn (hoãn binh), hĩ (một tiếng đệm), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn hợp, hỗn mang), huyễn (huyễn mộng), hữu (bằng hữu)
k
kỹ (ca kỹ, kỹ thuật, kỹ xảo)
ph
phẫn (phẫn nộ), phẫu (giải phẫu)
d
quẫn (quẫn bách), quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, thủ quỹ)
s
sĩ (bác sĩ, viện sĩ), suyễn (suyễn tức, suyễn yết)
t
tiễn (tiễn biệt), tĩnh (tĩnh mịch), tuẫn (tuẫn tiết)
th
thuẫn (mâu thuẫn), thũng (phù thũng)
tr
trãi, trẫm, trĩ (ấu trĩ), trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ)
x
xã (xã hội, xã tắc)
Từ hai điểm trên, chúng ta có thể nêu lên hai luật hỏi ngã dành cho tiếng Hán Việt như sau:
Luật 5
các từ Hán Việt có phụ âm đầu d, l, m, n, nh, ng, v đều có dấu ngã.
Luật 6
các từ Hán Việt khác có thanh hỏi. Trừ khoảng 30 trường hợp ngoại lệ.
Tóm lại, viết dấu hỏi ngã tiếng Việt cho dù phức tạp nhưng vẫn có những lề luật từ tự thân tiếng Việt. Những mẹo luật mà Nguyễn Ðình và Lê Ngọc Trụ đã phát hiện và được nhắc đến ở đây chẳng qua chỉ là những phát hiện những quy luật ẩn dấu trong hoạt động ngôn ngữ mà thôi. Ðể có thể áp dụng sáu "luật hỏi ngã" trên đây, cần đến công phu thực tập đều đặn trong một thời gian đủ để chiêm nghiệm những quy luật được thể hiện qua thực tiễn ra sao.
Trong tình hình dạy và học tiếng Việt tại hải ngoại hiện nay, việc phân biệt dấu hỏi và dấu ngã là một công việc khó khăn. Nhưng đây cũng lại là một việc cần thiết vô cùng, vì đó là một trong những công việc cần thiết để nâng cao trình độ hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ của tiếng Việt. Có thể là chuyện viển vông khi nói đến chuẩn mực ngôn ngữ ở hải ngoại lúc này, nhưng đây lại là nhu cầu chính đáng của lớp trẻ ngày càng đòi hỏi phải nhìn lại cho rõ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ. Ðó cũng chính là mục đích của chính tả vậy.
Ðoàn Xuân Kiên
Luân Ðôn
--------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu:
Lê Ngọc Trụ (1959): Chánh Tả Việt Ngữ. (bản in kì 2). Sài Gòn: nxb. Trường Thi
Nguyễn Ðình (1939): Luật Ngã Hỏi, tạp chí Tao Ðàn (Hà Nội), bộ mới, số 8, ngày 16.6.1939
Phan Ngọc (1982): Chữa Lỗi Chính Tả Cho Học Sinh. Hà Nội: nxb. Giáo Dục
Ghi chú:
[1] Ðoàn Xuân Kiên, "Bàn về việc đánh dấu thanh tiếng Việt", in trong tập san Ðịnh Hướng số 17 (mùa thu 1998), tr. 109-121.
[2] Tiếng Việt hiện đại có khoảng 2000 từ mang dấu hỏi, và khoảng trên 1000 từ mang dấu ngã.
[3] Nói về hiện tượng vay mượn thì cần chú ý riêng đến vốn từ ngữ mượn từ tiếng Trung Hoa do người Hán đem sang từ khi họ đô hộ nước Việt cổ. Trong một thời gian dài cả nghìn năm, tiếng Hán đã trở thành một thứ ngôn ngữ chính thức trong xã hội Việt. Ðến khi nước ta giành lại nền độc lập (năm 939) thì tiếng Hán vẫn là thứ văn tự chính thức trong hành chính và giáo dục. Vì thế mà chúng ta gọi kho từ ngữ Hán dùng tại nước mình là tiếng Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại rất là đặc biệt, khác hẳn với một số nhỏ những từ ngữ mượn từ các ngôn ngữ phương tây về sau: đã từ lâu đời rồi, ngôn ngữ văn hoá của người Việt không thể thiếu vốn từ Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt trong chừng mức nào đó tương tự như tiếng Latin trong các ngôn ngữ Ấn-Âu vậy. Trước đây, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam toan loại bỏ chỗ đứng của từ Hán Việt. Nay thì họ lại rơi vào một quá khích khác, là dùng nhiều từ Hán Việt đến mức làm cho tiếng Việt nhiều khi tối tăm, nặng nề. (Báo Nhân Dân có thừa những dẫn chứng cụ thể về chuyện này). Chúng ta không sùng bái nhưng cũng không thể có thái độ kì thị đối với tiếng Hán Việt. Vả chăng, số vốn từ vựng Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại chiếm đến khoảng 60% từ ngữ, thì thái độ chính đáng của bất cứ ai quý trọng tiếng Việt là cần phải học hỏi và trau giồi vốn từ Hán Việt.
Cần lưu ý là trong lối nói thông thường hiện nay có khi chúng ta nói bất kể nhưng đây là trường hợp nói sai quy tắc, vì kể không phải là từ Hán Việt.
"Luật" này đã được một nhà giáo trẻ -tên là Nguyễn Ðình- tìm ra đầu tiên. Ông gửi đăng trên tạp chí Tao Ðàn số 8 bộ mới (1939) một bài báo mà ông gọi là luật ngã hỏi. Về sau ông Lê Ngọc Trụ đã phát triển thêm và gọi đó là luật bổng trầm (1943). Cũng Lê Ngọc Trụ đã khai triển thêm về những lề lối chuyển thanh âm của tiếng Hán Việt, và hoàn chình các mẹo luật chính tả tiếng Việt trong tập Chánh tả Việt ngữ (1952).
Các nhà Hán ngữ học (như Vương Lực) đã dò tìm trong một số từ ngữ Việt rất gần với giọng phát âm của người Hán, và đã đưa ra giả thuyết là tiếng Hán cổ có thể cũng vay mượn một số từ của Giao Châu trong thời kì người Hán sang đô hộ.
[7] Gs. Lê Ngọc Trụ cho rằng có một ngoại lệ là hỗi (dấu ngã), vì ông cho rằng đó là nói gộp âm của "hồi nãy đến giờ". Các bạn miền Nam của chúng tôi thì lại cho rằng khi nói hổi, họ nghĩ đến "hồi đó tới giờ". Vậy thì có một biệt lệ ở đây hay chăng?
[8] Ðể cho dễ nhớ, có thể học thuộc lòng câu sau đây: "mình nên nhớ là viết dấu ngã ", trong đó các âm đầu đều mang phụ âm của các từ Hán Việt có dấu ngã.
[9] Chính tả nghĩa là viết (tả) cho đúng (chính), nghĩa là viết đúng theo một mẫu mực nào đó được xã hội công nhận và quy định làm mực thước cho mọi người phải tuân theo.
Trích Viễn Xứ.com
Luật hỏi ngã trong chữ Việt
Như đã trình bày trong một bài trước đây, một từ tiếng Việt chỉ mang một trong số sáu thanh. Thanh là yếu tố định bậc cao thấp trong thang âm sáu bậc của tiếng Việt hiện đại, và là yếu tố cần và đủ để tạo thành ý nghĩa khu biệt của một từ. Sáu bậc cao thấp đó được cụ thể hoá một cách dễ hiểu bằng sáu tiếng sau đây: ngang (hoặc không) - huyền - ngã - hỏi - sắc - nặng. Phân biệt bốn thanh khác không có khó khăn gì, nhưng hai thanh hỏi và ngã thì cần nhiều công phu. Từ nghỉ và nghĩ chẳng hạn, chỉ khác nhau ở một dấu hỏi hay ngã mà làm nên sự khác biệt về ý nghĩa của hai từ đó. So sánh hai câu dưới đây để thấy sự khác biệt giữa hai thanh hỏi và ngã làm nên sự khác biệt ý nghĩa của từ:
Thôi, đừng nghĩ ngợi làm gì cho mệt xác !
Thôi chứ, đã hết giờ nghỉ mệt rồi !
Cho nên lầm lẫn dấu hỏi ngã trong những trường hợp như thế sẽ thay đổi hẳn ý nghĩa của từ trong một câu. Phân biệt dấu hỏi và ngã là một việc tương đối dễ dàng đối với người nói giọng bắc, nhưng lại là một việc cần thiết cho những ai nói giọng trung và nam - nghĩa là người phát âm giọng tiếng Việt từ phía nam Thanh Hoá vào trong vùng tây nam bộ. Ðối với những người - đàng trong - thì phân biệt hỏi ngã dựa trên phát âm là chuyện khó chính xác, vì số từ ngữ tiếng Việt mang dấu hỏi và ngã là một khối lượng khá lớn. Do vậy, nếu nắm được một số những quy tắc hoạt động của thanh hỏi và thanh ngã thì sẽ giúp giải quyết những khó khăn về dấu hỏi - ngã.
Trong bài này chúng tôi cố gắng hệ thống hoá lại những nét chính của chính tả dấu hỏi ngã trong tiếng Việt. Vì việc phân biệt hỏi ngã có khác nhau giữa hai loại từ vựng trong tiếng Việt, chúng tôi sẽ chia bài thành hai phần chính: trước hết là phân biệt hai nhóm từ vựng trong tiếng Việt, sau đó mới tìm hiểu cách phân biệt hỏi-ngã trong từng nhóm loại từ vựng này.
NHẬN BIẾT MỘT TỪ TIẾNG VIỆT
Chúng ta biết rằng từ vựng tiếng Việt là tập hợp từ những nguồn khác nhau: nguồn thứ nhất là những từ ngữ rất lâu đời của cộng đồng ngôn ngữ Việt cổ thuộc họ ngôn ngữ Nam A¨; nguồn thứ hai là những từ ngữ vay mượn từ một ngôn ngữ khác, hoặc là từ tiếng Hán (tức là tiếng Hoa nói vào đời Hán), hoăc là từ một ngôn ngữ phương tây gần đây. Như vậy thì một từ tiếng Việt có thể là một từ "thuần Việt" (hay có khi còn gọi là tiếng nôm), cũng có thể là một từ Hán Việt, hoặc là một từ mới vay mượn từ một ngôn ngữ khác. Mỗi loại từ trên có những nét tính cách khác nhau về thanh. Nhận biết được một từ là thuộc nhóm từ nôm hoặc từ Hán Việt sẽ giúp giải quyết được một số khá nhiều những trường hợp cần phân biệt dấu hỏi ngã. Nhưng làm thế nào để phân biệt được đâu là một từ thuần Việt và đâu là một từ Hán Việt hoặc một từ vay mượn ?
Từ thuần Việt trước kia thường gọi chung đây là những "tiếng nôm", nói trại từ "tiếng nam", tức là tiếng của người nước Nam - để phân biệt với tiếng nói của người phương Bắc, tức là người Hán. Ðó là những từ có thể chuyển đổi thanh theo quy luật hài thanh, hoặc là những từ láy âm theo phép hoà phối ngữ âm. Chẳng hạn, từ nở, nóng, hỏi là những từ thuần Việt, vì chúng có thể tạo thành những từ láy âm: nở nang, nóng nảy, hỏ han. Một từ như đã, chẳng, dẫu là những từ thuần Việt, vì chúng có thể chuyển thanh điệu mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa: đà, chăng, dầu.
Từ Hán Việt là những từ đã vay mượn từ vốn từ vựng tiếng Hán từ cả gần hai nghìn năm trước đây, khi nhà Hán bên Trung Hoa sang đô hộ xứ mình. Số từ Hán Việt đã chiếm quá nửa số vốn từ của chúng ta hiện nay. Có thể nhận biết một từ Hán Việt hay không là nhờ mấy cách như sau:
Nếu một chữ hay một tiếng có thể ghép với các tiếng như nhất (một), hữu (có), vô (không), bất (chẳng), thì từ ấy phải là từ Hán Việt. Vậy thì từ nhân, ích, đạo, bình là những tiếng Hán Việt vì chúng có thể kết hợp có ý nghĩa với bốn tiếng trên kia: nhất nhân, hữu ích, vô đạo, bất bình.
Nếu một chữ hay một tiếng có nghĩa nhưng không thể đứng một mình làm thành một từ được mà chỉ có thể làm thành một thành phần của từ mà thôi, thì đó là một chữ Hán Việt. Ví dụ: những tiếng quốc (nước), gia (nhà), sơn (núi), hà (sông), nhất (một), nhị (hai),& thường chỉ ghép chúng với một tiếng khác chứ không thể dùng riêng rẽ được. Chẳng hạn, để nói ý "hai quả núi", người Việt không thể nói nhị núi hoặc hai quả sơn; cũng thế, có thể viết là nhất gia, sơn hà, nhị nhân... nhưng không thể nói một gia, núi hà, hai nhân. Vậy thì những tiếng quốc, gia, sơn hà, nhân, nhất, nhị là những tiếng Hán Việt.
Nếu gặp một chữ hoặc một tiếng mà ta không hiểu nghĩa, nhưng ta lại biết rằng chúng có thể ghép chung với hai từ mà lại có cùng ý nghĩa, thì đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: ta gặp từ trường sinh mà ta không biết tiếng trường là gì, nhưng biết là nó ghép chung với hai tiếng khác (trường dạ, trường kỉ), thì có thể đoán biết là trường là một tiếng Hán Việt có nghĩa là "dài"; hoặc là đọc đến mấy chữ tác nghiệp, ta không hiểu tác là gì, nhưng biết là có sáng tác, tác giả, thì đoán biết tác là một tiếng Hán Việt, có nghĩa đại khái là "làm ra cái gì đó".
Nếu một tiếng nào đó mặc dù quen dùng riêng rẽ trong lời nói hằng ngày, nhưng lại thấy chúng thường ghép trong ít nhất là hai từ Hán Việt, thì tiếng hoặc chữ đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: tiếng học là một từ quen dùng. Tiếng này có thể gặp trong những từ Hán Việt như học sinh, đại học, học vị. Vậy thì tiếng học là một tiếng Hán Việt. Thí dụ khác: tiếng chúng có thể gặp trong các từ Hán Việt như quần chúng, chúng sinh..., vậy thì chúng cũng là một tiếng Hán Việt.
Từ vay mượn: là những từ ngữ vay mượn từ vốn từ vựng của các ngôn ngữ khác, cụ thể là các ngôn ngữ phương tây. Từ khi giao tiếp với phương tây đến nay, tiếng Việt đã đưa vào kho từ vựng của mình những tiếng như xà phòng, (áo) sơ mi, xi măng, (dầu) xăng, cao bồi, (trái) bom, phim, (xe) ô tô, cuốc (xe), (bà) đầm, (bánh) quy, (nhà) băng, két (bạc), (kinh) xáng. Những tiếng vay mượn này hoặc được phiên âm trực tiếp từ một từ ngữ phương tây (xi măng
DẤU HỎI NGÃ ÐỐI VỚI TIẾNG THUẦN VIỆT
Một tính cách rất nổi bật của tiếng Việt là tính cách hoà phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép mà chúng ta thường gọi là từ láy. Những từ có hai âm tiết láy với nhau khi một hay nhiều thành phần âm tiết của hai âm tiết đó lặp lại giống hệt âm kia (gọi là điệp âm), hoặc kết hợp với âm kia theo một trật tự nào đó. Một vài thí dụ về từ láy: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ... Hiện tượng láy từ có tác dụng trước hết là sự cân đối, sự hài hoà giữa các âm tiết của từ. So sánh hai câu dưới đây:
2a Căn nhà này khá rộng.
2b Căn nhà này khá rộng rãi.
Cả hai câu nói đều đúng cách nói thông thường. Nhưng khi nói rộng rãi như trong câu 2b thì nghe êm ái hơn, dễ nghe hơn, và do đó được chuộng hơn.
Xem thế thì hoà phối ngữ âm là sự kết hợp hài hoà giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng. Hoà phối ngữ âm có thể thực hiện ở cả bốn thành phần âm tiết của từ:
Láy âm đầu: lững lờ, lờ vờ, lụng thụng
Láy âm chính: đo đỏ, gồ ghề, chúm chím, nhõng nhẽo
Láy âm cuối: mũm mĩm, hầm hập, ươn ướt
Láy thanh: thênh thang, vàng vọt, lả lơi, ngả ngớn
Ở đây chúng ta chỉ chú ý đến sự hoà phối ngữ âm về mặt thanh điệu. Sự phân bố cân phương này được gọi là luật hài thanh . Luật hài thanh được thể hiện qua hai hiện tượng liên quan đến hoạt động của thanh điệu tiếng Việt:
Trước hết là sự hài thanh giữa hai âm tiết của từ láy: đây là sự phân bố cân đối giữa các thanh giữa hai âm tiết của một từ kép thành từng đôi một trong mỗi nhóm dưới đây:
Nhóm thứ nhất (thanh bổng): ngang - hỏi - sắc
Nhóm thứ nhì (thanh trầm): huyền - ngã - nặng
Theo bảng trên đây, hai từ thuộc nhóm thứ nhất có thể mang một trong ba thanh:
Ngang - hỏi: lửng lơ, thơ thẩn, sang sảng
Hỏi - sắc: lở lói, ngả ngớn, vắng vẻ, gắng gỏi,
Ngang - sắc: diêm dúa, nghe ngóng, mang máng, líu lo, thối tha
Ba thanh thuộc nhóm thứ nhì được phân bố kết hợp như sau:
Huyền - ngã: ầm ĩ, lờ lững, vòi vĩnh, ỡm ờ, thẫn thờ,
Ngã - nặng: kĩu kịt, nũng nịu, nhão nhoẹt, hợm hĩnh, đẹp đẽ
Huyền - nặng: mờ mịt, vàng vọt, lặng lờ, mặn mà
Luật hài thanh còn thể hiện cả trong hiện tượng chuyển thanh điệu của một số từ. Tiếng Việt có nhiều từ biến đổi thanh mà vẫn không đổi ý nghĩa sang một từ khác. Hiện tượng chuyển đổi thanh trong tiếng Việt cũng theo phép hài thanh, nghĩa là các từ chuyển thanh theo hai nhóm mà Lê Ngọc Trụ (1959) tóm lại thành hai mô hình mà ông gọi là tan - tán - tản và lãi - lời - lợi. Phép chuyển thanh này như sau:
Ðổi thanh theo mô hình tan - tán - tản (nhóm ngang - hỏi - sắc). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:
chăng - chẳng
lén - lẻn
rảy - rưới
chưa - chửa
lỏm - lóm
túa - tủa / toả
không - hổng
thoáng - thoảng
há miệng - hả miệng
phản - ván
ham - hám
nói hở - nói hớ
tan - tản
bấu - bâu
vểnh mặt - vênh mặt
Ðổi thanh theo mô hình lãi - lời - lợi (nhóm huyền - ngã - nặng). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:
đã - đà
ngỡ - ngờ
chậm rãi - chẫm rãi
lời - lợi
cội - cỗi
ướt đẫm - ướt đầm
dẫu - dầu
còi - cỗi
đen sậm - đen sẫm
cũng - cùng
đỗ - đậu
xoã tóc - xoà tóc
(sông) Nhị - (sông) Nhĩ
thõng - thòng
ăn ruỗng - ăn ruồng
Ngoài ra, có một số từ Hán Việt và tiếng thuần Việt dường như có liên quan, gần gũi với nhau . Những trường hợp vay mượn qua lại như thế cũng tuân theo phép hài thanh của tiếng Việt, nghĩa là cũng theo một trong hai mô hình tan - tán - tản và lãi - lời - lợi. Dưới đây là một vài thí dụ về sự giao tiếp ngôn ngữ như thế:
huyền - ngã - nặng
ngang - hỏi - sắc
cưỡng - gượng
thiểu - thiếu
trữ - giữ
thố - thỏ
đãi - đợi
xả - xá
Biết được tính cách của luật hài thanh thì chúng ta có thể nêu lên thành luật gọi là "luật hỏi-ngã của các tiếng nôm" như sau:
Luật 1
khi hai tiếng có thể láy được với nhau thì hễ một tiếng mang dấu ngang (không dấu) hoặc dấu sắc thì tiếng kia phải mang dấu hỏi; ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng kia phải mang dấu ngã.
Luật 2
một từ có thể chuyển thanh điệu sang ngang hoặc sắc thì chắc chắn là mang dấu hỏi (theo mẫu tan - tán - tản); ngược lại, một tiếng có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng thì chắc chắn là có dấu ngã (theo mẫu lời - lãi - lợi).
Hai luật hỏi ngã này có thể giúp giải quyết được một số khá lớn các trường hợp mà người viết đang còn phân vân không biết nên bỏ dấu hỏi hay dấu ngã. Chẳng hạn, khi phải viết câu dưới đây, người nói giọng đàng trong có thể phân vân không biết bỏ dấu hỏi ngã thế nào:
3a Chị mơ gói thịt mơ ra rồi ngao ngán thơ dài.
Có thể dùng phép hài thanh (ngang hỏi sắc-huyền ngã nặng) để tìm ra được rằng: tiếng Việt có nói mở mang (làm cho rộng ra) theo luật ngang-hỏi-sắc, và có mỡ màng (có nhiều chất dầu, mỡ) theo luật huyền-ngã-nặng; lại cũng có thở than (than vãn chuyện gì) mà không có *thỡ (viết với dấu ngã). Vậy câu 3a bỏ dấu hỏi ngã như sau:
3b Chị mở gói thịt mỡ ra rồi ngao ngán thở dài.
Một thí dụ khác là khi viết câu dưới đây:
4a Ðứa bé đa ăn no rồi mà vân chưa chịu đi ngu.
Chúng ta biết là từ đã ở đây phải bỏ dấu ngã vì cũng có thể nói đà mà câu vẫn không đổi nghĩa. Từ vẫn mang dấu ngã vì phó từ này không có thể nhầm lẫn với từ vẩn - Có nghĩa là chất cặn bẩn, hoặc từ vẩn vơ (có nghĩa là tâm trạng không dứt khoát) theo luật ngang-hỏi-sắc. Từ ngủ ở cuối câu thì chỉ có thể láy thành ngủ nghê theo luật ngang-hỏi-sắc, nên phải mang dấu hỏi. Vậy thì câu 4a được viết hoàn chỉnh như sau:
4b Ðứa bé đã ăn no rồi mà vẫn chưa chịu đi ngủ.
Ngoài ra, cũng nên biết thêm là người Việt - nhất là người miền Nam - hay nói gộp các tiếng hai âm tiết thành một trong những trường hợp sau đây: phải không > phỏng, bà ấy > bả, ở bên ngoài ấy > ở ngoải, hôm ấy > hổm, năm ấy > nẳm, hồi ấy > hổi [7]. Tất cả những tiếng nói gộp trên đây đều mang dấu hỏi. Vậy thì có luật 3 như sau:
Luật 3
Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi
Trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại còn có một nhóm nhỏ những từ ngữ nước ngoài nhưng đã được chuyển sang giọng đọc tiếng Việt. Các tiếng vay mượn thường được phiên chuyển sang thanh hỏi: moả (< moi), xừ luỷ (< lui), đi rỏn (< ronde), sở cẩm (< commissaire de police), làm cỏ vê (< corvée). Vậy có thể nêu thành luật cho loại từ ngữ này như sau:
Luật 4
các tiếng vay mượn từ tiếng nước ngoài và đã chuyển sang giọng tiếng Việt, thì thường viết với dấu hỏi.
DẤU HỎI NGÃ CỦA TỪ HÁN VIỆT
Như đã nói ở trên, nhận biết được một từ Hán Việt sẽ có lợi rất lớn là phân biệt được một phần khá lớn những từ mang dấu hỏi ngã thuộc nhóm từ Hán Việt. Giở từ điển Hán Việt, ta có thể thấy là:
(1) Những từ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm d, l, m, n. nh, ng, v thường viết dấu ngã . Có khoảng 180 từ Hán Việt mang dấu ngã. Ví dụ:
Phụ âm d: dã, dĩ, dũ, dữ.
Phụ âm l: lão, lễ, lỗ, lữ
Phụ âm m: mão, mãnh, mẫn, mỗ
Phụ âm n: não, nễ, nỗ, nữ
Phụ âm ng: ngã, ngỗ, ngũ, ngữ
Phụ âm nh: nhã, nhĩ, nhũ, nhữ
Phụ âm v: vẫn, vĩ, viễn, vũ
(2) Ngoài những trường hợp kể trên, các từ Hán Việt khác bắt đầu bằng các phụ âm khác đều viết dấu hỏi, trừ những lệ ngoại sẽ nói ở dưới. Ví dụ về các từ Hán Việt có dấu hỏi:
Nguyên âm:
ả, ảo, ẩn, yểu, uẩn, uỷ.
Phụ âm
b
bảo, bỉ, bỉnh, bổng, bửu
c/k/q
cảo, cổ, củ, kỉ, kiểu, quả, quản, quảng, quỷ
đầu ch
chỉ, chiểu, chuẩn, chủng, chử
đầu đ
đả, đẩu, để, điểu, đổ
gi
giả, giảo,
h
hảo, hỉ, hổ, hủ
đầu kh
khả, khẩu, khổ, khởi
ph
phả, phỉ, phổ
s
sỉ, sổ, sửu
t
tả, tảo, tể, tỉ, tổ, tử
th
thải, thổ, thủ, thưởng
tr
trảo, trảm, triển, trưởng
x
xa, xả, xảo, xỉ, xử
Nhóm thứ nhì này có khoảng 30 trường hợp ngoại lệ, cần nhớ thuộc lòng. Dưới đây là bảng liệt kê các từ đó với những thí dụ về từ ghép đặt trong ngoặc:
Phụ âm
b
bãi (bãi thị, bãi nại), bĩ (bĩ vận),
c
cữu (linh cữu), cưỡng (cưỡng đoạt)
đ
đãng (khoáng đãng), đễ (hiếu đễ), đỗ (Ðỗ thị)
h
hãm (hãm hại), hãn (hãn hữu), hoãn (hoãn binh), hĩ (một tiếng đệm), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn hợp, hỗn mang), huyễn (huyễn mộng), hữu (bằng hữu)
k
kỹ (ca kỹ, kỹ thuật, kỹ xảo)
ph
phẫn (phẫn nộ), phẫu (giải phẫu)
d
quẫn (quẫn bách), quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, thủ quỹ)
s
sĩ (bác sĩ, viện sĩ), suyễn (suyễn tức, suyễn yết)
t
tiễn (tiễn biệt), tĩnh (tĩnh mịch), tuẫn (tuẫn tiết)
th
thuẫn (mâu thuẫn), thũng (phù thũng)
tr
trãi, trẫm, trĩ (ấu trĩ), trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ)
x
xã (xã hội, xã tắc)
Từ hai điểm trên, chúng ta có thể nêu lên hai luật hỏi ngã dành cho tiếng Hán Việt như sau:
Luật 5
các từ Hán Việt có phụ âm đầu d, l, m, n, nh, ng, v đều có dấu ngã.
Luật 6
các từ Hán Việt khác có thanh hỏi. Trừ khoảng 30 trường hợp ngoại lệ.
Tóm lại, viết dấu hỏi ngã tiếng Việt cho dù phức tạp nhưng vẫn có những lề luật từ tự thân tiếng Việt. Những mẹo luật mà Nguyễn Ðình và Lê Ngọc Trụ đã phát hiện và được nhắc đến ở đây chẳng qua chỉ là những phát hiện những quy luật ẩn dấu trong hoạt động ngôn ngữ mà thôi. Ðể có thể áp dụng sáu "luật hỏi ngã" trên đây, cần đến công phu thực tập đều đặn trong một thời gian đủ để chiêm nghiệm những quy luật được thể hiện qua thực tiễn ra sao.
Trong tình hình dạy và học tiếng Việt tại hải ngoại hiện nay, việc phân biệt dấu hỏi và dấu ngã là một công việc khó khăn. Nhưng đây cũng lại là một việc cần thiết vô cùng, vì đó là một trong những công việc cần thiết để nâng cao trình độ hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ của tiếng Việt. Có thể là chuyện viển vông khi nói đến chuẩn mực ngôn ngữ ở hải ngoại lúc này, nhưng đây lại là nhu cầu chính đáng của lớp trẻ ngày càng đòi hỏi phải nhìn lại cho rõ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ. Ðó cũng chính là mục đích của chính tả vậy.
Ðoàn Xuân Kiên
Luân Ðôn
--------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu:
Lê Ngọc Trụ (1959): Chánh Tả Việt Ngữ. (bản in kì 2). Sài Gòn: nxb. Trường Thi
Nguyễn Ðình (1939): Luật Ngã Hỏi, tạp chí Tao Ðàn (Hà Nội), bộ mới, số 8, ngày 16.6.1939
Phan Ngọc (1982): Chữa Lỗi Chính Tả Cho Học Sinh. Hà Nội: nxb. Giáo Dục
Ghi chú:
[1] Ðoàn Xuân Kiên, "Bàn về việc đánh dấu thanh tiếng Việt", in trong tập san Ðịnh Hướng số 17 (mùa thu 1998), tr. 109-121.
[2] Tiếng Việt hiện đại có khoảng 2000 từ mang dấu hỏi, và khoảng trên 1000 từ mang dấu ngã.
[3] Nói về hiện tượng vay mượn thì cần chú ý riêng đến vốn từ ngữ mượn từ tiếng Trung Hoa do người Hán đem sang từ khi họ đô hộ nước Việt cổ. Trong một thời gian dài cả nghìn năm, tiếng Hán đã trở thành một thứ ngôn ngữ chính thức trong xã hội Việt. Ðến khi nước ta giành lại nền độc lập (năm 939) thì tiếng Hán vẫn là thứ văn tự chính thức trong hành chính và giáo dục. Vì thế mà chúng ta gọi kho từ ngữ Hán dùng tại nước mình là tiếng Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại rất là đặc biệt, khác hẳn với một số nhỏ những từ ngữ mượn từ các ngôn ngữ phương tây về sau: đã từ lâu đời rồi, ngôn ngữ văn hoá của người Việt không thể thiếu vốn từ Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt trong chừng mức nào đó tương tự như tiếng Latin trong các ngôn ngữ Ấn-Âu vậy. Trước đây, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam toan loại bỏ chỗ đứng của từ Hán Việt. Nay thì họ lại rơi vào một quá khích khác, là dùng nhiều từ Hán Việt đến mức làm cho tiếng Việt nhiều khi tối tăm, nặng nề. (Báo Nhân Dân có thừa những dẫn chứng cụ thể về chuyện này). Chúng ta không sùng bái nhưng cũng không thể có thái độ kì thị đối với tiếng Hán Việt. Vả chăng, số vốn từ vựng Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại chiếm đến khoảng 60% từ ngữ, thì thái độ chính đáng của bất cứ ai quý trọng tiếng Việt là cần phải học hỏi và trau giồi vốn từ Hán Việt.
Cần lưu ý là trong lối nói thông thường hiện nay có khi chúng ta nói bất kể nhưng đây là trường hợp nói sai quy tắc, vì kể không phải là từ Hán Việt.
"Luật" này đã được một nhà giáo trẻ -tên là Nguyễn Ðình- tìm ra đầu tiên. Ông gửi đăng trên tạp chí Tao Ðàn số 8 bộ mới (1939) một bài báo mà ông gọi là luật ngã hỏi. Về sau ông Lê Ngọc Trụ đã phát triển thêm và gọi đó là luật bổng trầm (1943). Cũng Lê Ngọc Trụ đã khai triển thêm về những lề lối chuyển thanh âm của tiếng Hán Việt, và hoàn chình các mẹo luật chính tả tiếng Việt trong tập Chánh tả Việt ngữ (1952).
Các nhà Hán ngữ học (như Vương Lực) đã dò tìm trong một số từ ngữ Việt rất gần với giọng phát âm của người Hán, và đã đưa ra giả thuyết là tiếng Hán cổ có thể cũng vay mượn một số từ của Giao Châu trong thời kì người Hán sang đô hộ.
[7] Gs. Lê Ngọc Trụ cho rằng có một ngoại lệ là hỗi (dấu ngã), vì ông cho rằng đó là nói gộp âm của "hồi nãy đến giờ". Các bạn miền Nam của chúng tôi thì lại cho rằng khi nói hổi, họ nghĩ đến "hồi đó tới giờ". Vậy thì có một biệt lệ ở đây hay chăng?
[8] Ðể cho dễ nhớ, có thể học thuộc lòng câu sau đây: "mình nên nhớ là viết dấu ngã ", trong đó các âm đầu đều mang phụ âm của các từ Hán Việt có dấu ngã.
[9] Chính tả nghĩa là viết (tả) cho đúng (chính), nghĩa là viết đúng theo một mẫu mực nào đó được xã hội công nhận và quy định làm mực thước cho mọi người phải tuân theo.
Trích Viễn Xứ.com
Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010
THỂ THAO
Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010
THU THA HƯƠNG .
THU THA HƯƠNG.
Lại một mùa THU đến nửa rồi.
Sương THU hiu hắt,lá vàng rơi.
Gió THU nhè nhẹ lay cành Liểu.
Một mãnh Trăng THU tậng cuối Trời.
THU đến,THU đi,THU lại đến.
Quê hương bỏ lại mấy THU rồi.
Chờ đợi mỏi mòn trên đất khách.
Ngày về cố quốc quá xa xôi.
Thương tiếc lá vàng bay theo gió.
Tha hương buồn lắm lá vàng ơi !
( Lão Mã Sơn )
Lại một mùa THU đến nửa rồi.
Sương THU hiu hắt,lá vàng rơi.
Gió THU nhè nhẹ lay cành Liểu.
Một mãnh Trăng THU tậng cuối Trời.
THU đến,THU đi,THU lại đến.
Quê hương bỏ lại mấy THU rồi.
Chờ đợi mỏi mòn trên đất khách.
Ngày về cố quốc quá xa xôi.
Thương tiếc lá vàng bay theo gió.
Tha hương buồn lắm lá vàng ơi !
( Lão Mã Sơn )
NGÀY XƯA - NGÀY NAY
Ngày xưa áo trắng tóc thề
Đường ̣đi lắm kẻ thập thò theo sau
Rồi thời gian cũng qua mau
Tóc Thề xưa đã ... nhuốm màu Muối Tiêu
Buâng khuâng nghe nói lời Yêu
Phá Làng cũng thấy muôn điều Dễ Thương
Bây giờ Tóc đã pha Sương
Thấy sao ngày ấy ...Ta Thương lãng òm
.....Mời Thùy
Đường ̣đi lắm kẻ thập thò theo sau
Rồi thời gian cũng qua mau
Tóc Thề xưa đã ... nhuốm màu Muối Tiêu
Buâng khuâng nghe nói lời Yêu
Phá Làng cũng thấy muôn điều Dễ Thương
Bây giờ Tóc đã pha Sương
Thấy sao ngày ấy ...Ta Thương lãng òm
.....Mời Thùy
Có thể các bạn chưa biết!

(MC):
Người ta thường lấy mức ngập lụt của trận lụt 1952 (năm thìn) để làm chuẩn tính toán về an toàn cho các công trình quan trọng. Thí dụ công trình hồ Sông Lòng Sông tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, hiện cũng phải tính toán kiểm tra an toàn theo chuẩn này.
Tại Phan Thiết, lời kể và tư liệu về trận lụt 1952 không nhiều. Nước tràn vào thành phố xảy ra ban đêm, nhà cửa bấy giờ đa số lại là nhà trệt, vì không có đường chạy, nên số người thiệt mạng lúc đó rất nhiều.
Vấn đề là bề rộng cửa sông Cà Ty quá nhỏ, làm sao tải một lượng nước khổng lồ và đột ngột như thế chảy ra biển.
Để có cái nhìn về trận lụt năm xưa, các nhà chuyên môn vể cơ học lưu chất (Fluid Mechanics) đã thiết lập mô hình tính toán cho trận lụt, kết quả như bản đồ trên đây.
Các bạn sẽ thấy sông Cà Ty đã phải tự mở thêm một cửa sông khác, và vị trí cửa sông này nằm giữa “Ngã 3 Lạc Đạo” và “Ngã 3 Cổng chữ Y”.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



